Nguyễn Bắc Sơn và Trịnh Sơn
NTT – Tối nay được mời ngồi trong đoàn chủ tọa cuộc ”Tọa đàm thơ
Bùi Giáng” (cùng với Phạm Xuân Nguyên, Bùi Văn Nam Sơn, Nhật Anh) tại Trung tâm
Văn Hóa Pháp nhưng đến chậm mấy phút. Cái ông thi sĩ “trời giáng” này thì đàm
mấy cũng không hết, càng đàm càng hay. Xong cuộc lại được mời về 2 Lê Thạch
(gần Hồ Gươm) uống rượu chơi. Giang và Anh (Nhã Nam) bàn chuyện in thơ miền
Nam. Tôi lưu ý 4 người là Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Nguyễn Bắc Sơn, Du Tử Lê.
Bốn nhà thơ này hiện còn quá nhiều độc giả cần đọc họ mà không có sách. Rượu
mông lung, tôi và Đạt Ma gọi taxi về ngõ Hàng Chỉ, nơi có thể ngồi suốt sáng.
Đoàn Tử Huyến ghé qua “xin” về nhà vì 2 ngày qua ghé Đồ Sơn ba lô quá nặng.
Phạm Ngọc Ngoạn được vợ (NSUT Thu Hà) động viên liền chạy thẳng đến quán quen
(uống khuya). Rượu vào lời ra lại nhắc tới Nguyễn Bắc Sơn. “Ta vốn ghét đàn
bà như ghét cứt/ Nhưng cớ sao ta lại yêu em?”. Câu thơ rất “bố láo” ấy lại
găm vào tâm trí nhiều người. Hóa ra, bạn tôi ai cũng thuộc.
Nguyễn Bắc Sơn là nhà thơ lính VNCH trước 1975. Ba của anh là sĩ
quan cao cấp QĐNDVN (đối lập). Nhưng Nguyễn Bắc Sơn là “Nhà thơ Người” nên thơ
anh làm lay động lòng Người. Tôi thuộc thơ anh từ trong cuộc chiến. Nhiều người
bộ đội cũng thuộc thơ anh. Nhà thơ Anh Ngọc trong đời thích nhất 2 người “Sài
Gòn cũ”, đó là Nguyễn Bắc Sơn và Trịnh Công Sơn. Sau 1975, Nguyễn Bắc Sơn có
gửi cho tôi vài bài thơ và tôi đã đưa thơ anh in vào “Tuyển tập Thơ Huế
1975-1995″. Năm kia anh có nhờ nhà thơ Liên Tâm ở Phan Thiết mail cho tôi một
chùm thơ mới để đăng lên trang web. Khi tôi đến Phan Thiết nhờ Kim Oanh tìm anh
thì anh lại đang ở Sài Gòn thăm con. Thế là vẫn chưa có duyên gặp nhau…
Uống nhanh về nhà sớm, lúc 2 giờ sáng, mở máy lại thấy bài viết này
của Trịnh (không Công) Sơn gửi qua Mail viết về Nguyễn Bắc Sơn. Bài viết như
một “chứng từ” quý và hay. Liền đưa lên đây…
.
SÔNG MAO PHÁ PHÁCH VỚI NGƯỜI
TRỊNH SƠN
Địa danh Sông Mao có lẽ sẽ không mấy
người nhắc đến nữa sau năm 1975 nếu không có những câu thơ của thi sĩ NGUYỄN
BẮC SƠN:
“Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui”
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui”
Theo nhận xét của học giả ĐẶNG TIẾN:
“Nhiều người đọc, nhất là giới thanh niên, ngạc nhiên và sảng khoái trước
những lời thơ ngang tàng, bi tráng, ý thơ u uất, kiêu bạc, bất cần đời. Câu thơ
phơi trải tâm trạng một lớp thanh niên Miền Nam, vào thời điểm quyết định của
chiến tranh – và từ đó – làm chứng từ cho một khía cạnh của cuộc chiến kéo dài
non hai mươi năm”. Đã vài lần tôi cố ý trở lại miền đất nhiều oan khiên ấy,
để nhìn xem cỏ cây ở đó mọc có khác cỏ cây nơi khác, nhánh sông ấy cuốn chở phù
sa có khác màu với phù sa trăm ngàn dòng sông khác trên quê hương Việt Nam
không, con người “tu từ thuở nằm nôi” ấy có mắt mũi tay chân nhiều hơn con
người ở xứ sở khác ư – Thời gian luôn đi trước chúng ta – gột rửa và thanh tẩy
tất cả mọi thứ trong tầm với – Sau mấy mươi năm, sông khiêm tốn dè dặt nép mình
bên lũ núi đồi cất tiếng trong vắt yếu ớt, phù sa dường như đã bỏ đất đi tận
đẩu đầu đâu từ xa lơ xa lắc, người ôm vóc mỏng đi nhặt niềm hớt hơ hớt hãi giữa
ồ ào thị tứ. Bạc trắng cả bầy gió phiến loạn kéo cờ từ phía biển. Chiến
tranh Việt Nam trở thành một thương hiệu cho nhiều kẻ đánh thuê ưỡn ngực
nhắc nhở quá vãng, đồng thời, Chiến tranh Việt Nam cũng là vòng kim cô
xiết lại những khát vọng “đội đá vá trời” trong tâm trí không ít Tôn Hành Giả
thời đại mới. Chàng thanh niên “Đời mình như ly rượu cạn / Hắt toẹt đời đi
chẳng nhíu mày” bên gốc chiến sự năm nảo năm nào bây giờ thi thoảng lại tần
ngần vấp chân trước hầm hố, lô-cốt đã trôi qua ký ức tuổi hai mươi lem luốc. Té
ngã hân hoan rồi hân hoan đứng dậy. Mấy lần tự chết hóa ra chỉ là tập chết. Cơn
cuồng nộ của lý tưởng bắt nguồn từ cái xoáy ốc bé xíu giữa cuộc đời rộng ngát.
Nói về NGUYỄN BẮC SƠN, tôi hẳn chưa thể gật đầu với ý kiến của ĐẶNG TIẾN: “Vào
khoảng 1970, khi thơ Nguyễn Bắc Sơn xuất hiện và gây ngạc nhiên, nhiều người
cho rằng có hơi hướm thơ Quang Dũng, có lẽ vì đề tài chiến tranh và lời thơ bi
tráng. Nhưng xét kỹ thì không đúng: thơ Quang Dũng lãng mạn và lý tưởng, thơ
Nguyễn Bắc Sơn ngược lại, phi lãng mạn và phi lý tưởng.” Không-lãng-mạn
chính là một thái độ lãng mạn và không-lý-tưởng là cội sinh lý tưởng? Người ta
bắt đầu hát khi âm nhạc đã tràn ứ bốn bề thân phận chứ chẳng ai dại dột nuốt
hết khí trời vào lồng phổi mình mà ước mơ kiến tạo thanh tao ngữ điệu. Kinh
nghiệm mỗi tế bào đất nước nhận được qua Chiến tranh Việt Nam và tôi là
gì? Trước nhất, ấy là cái tôi dạn dày chết đứng kiểu Từ Hải hoặc là cái tôi nhu
mì khiêm nhẫn váng vất Kiều. Sở hữu cả hai cái tôi này, bình thản cho chúng
triệt tiêu nhau trên sàn đấu play-off của trí cảm – chỉ có thể là một số hiếm
hoi tổ hợp vụng-dại-hoài-vọng bắt đầu ngày mới từ đêm cũ, để cho vòng tròn cuộc
sống quay chầm chậm theo tâm hồn ta. Đám đông có quyền năng với tạp âm của nó
và luôn phải cuồng vội quay xiết uốn éo theo trái cầu mang tên Sự thật. Thông
điệp của người thơ NGUYỄN BẮC SƠN gởi cho chúng ta trong tác phẩm Chiến
tranh Việt Nam và tôi thường xuyên bị hiểu lầm một cách quá đáng – nhiều
khi chỉ có “chiến tranh Việt Nam”, lắm lúc lại là một-tôi-cô liêu – Chữ “và”
mong manh quá ư giữa trùng trùng tao loạn dưới chân Niết Bàn? Mỗi lần nghĩ đến
điều này, tôi hình dung chữ “và” như một dấu gạch nối giữa năm sinh –
năm mất trên bia mộ một con người. Sâu thẳm chân lý tượng hình đành đoạn trong
thanh ngang cũn cỡn ấy chứ có phải ở danh vọng phú quý oan ức đoạn trường nào
đã trải qua suốt kiếp người. Và NGUYỄN BẮC SƠN, và tôi, và anh em,… Thế giới đã
thay đổi nhiều đủ cho tôi nhìn nhận cuộc chiến tương tàn bằng đôi con ngươi mù
màu hay thực ra, từ khởi đầu đến nay cuộc nồi da xáo thịt ấy vẫn chưa hề tự
diễn giải bản thân nó bằng bất cứ sắc xanh đỏ tím vàng nào? Về cuối đời,
Heiderger nói với bọn học trò: Trong các ngươi chỉ có một người hiểu ta –
nhưng, đã hiểu sai! Rất có thể, tôi còn cơ hội biết được cái sai của mình
trên con đường kiếm tìm yếu chất không-lãng-mạn và không-lý-tưởng của NGUYỄN
BẮC SƠN thi sĩ khi ông vẫn còn nói được với cuộc đời này bằng hơi ấm con người.
Lặn lội mấy ngày với cát gió Phan
Thiết, một tối Giêng sau Chiến tranh Việt Nam 40 năm, người đàn bà
trong đêm dạ lan dẫn tôi đến thăm nhà thi sĩ SƠN NGUYỄN. Đã lâu, ông đóng
cửa miễn tiếp khách. Muốn gặp ông, nhất thiết phải hẹn trước và chờ sự cho phép
của bà XUÂN HỒNG - phu nhân tao khang của nhà thơ từ xưa đến nay (theo
cách gọi của ĐẶNG TIẾN). Ngôi biệt thự có sân vườn rộng rãi, dây leo um mấy
phía rào. Ngay bên trái cổng vào là túp lều tre nứa nho nhỏ, ông tự hào giới
thiệu: chòi VẢNH TRE, phải mất một chuỗi cười hiền từ của người thơ tôi mới
hiểu được, VẢNH TRE nghĩa là VẼ TRANH – Hầu như suốt thời gian rảnh rỗi ông
miệt mài với màu với cọ ở đây. “Ông vẽ hay rửa tranh?” – “Vẽ cũng là rửa mà rửa
cũng như vẽ, có khác gì đâu!”. Móm mém ông già thất thập đăm đắm mắt ra góc bắc
vườn: - Trước, bầy Bồ-tát-kê hay về ngủ, dạo này phố chật người đông, vắng
dần… Tôi nhìn theo, thấy có bức tượng Phật cao ngất chếch mái ngói dội ánh
sáng trắng hôi hổi giữa đêm phố biển. Về sau, tìm hiểu lâu mới biết loài
Bồ-tát-kê ông nói chính là giống chim Uyên Nguyên được nhắc nhiều trong sách
xưa – gần giống chim cú, cánh rộng như đại bàng, lông màu xám trắng, mặt tròn
đẹp như mặt người, hiện nay rất hiếm thấy. “Ông còn làm thơ nữa không?” –
“cậu không thấy mái chòi LỜ THAM bát ngát bao la trên đầu chúng ta à?”. Hỏi
cũng đã hỏi rồi, trả lời cũng đã trả lời xong – hình như chúng tôi đang thì
thầm về một câu chuyện bí ẩn dịu dàng nào ở xa tít tắp. Đêm đầu xuân ngọt dịu
hương biển, trong căn phòng khách có rất nhiều sách – tôi ngồi kề bên người thi
sĩ nhỏ nhắn, hiền lành uống từng hớp không-triết-lý từ những mẩu chuyện của
ông. Có lúc, tưởng như ông đang “tẩu hỏa nhập ma”, thao thao bất tuyệt về duyên
số căn phận, về Bát nhã ba la mật, về Mười bốn chặng thương khó… Có lúc, ông
viết viết vẽ vẽ rạng rỡ từng con số lên mặt giấy trắng: Số-hóa
thơ-Bùi-Giáng!. Say sưa chúng tôi nắm tay nhau đi từ phương đông đến phương
tây (ông giỏi Pháp ngữ, Anh ngữ – từng làm thông dịch cho cố vấn Mỹ) rồi lại
trở về Việt Nam, ở mảnh đất một thời máu nhuộm được gọi là mật khu Lê Hồng
Phong, xuôi sông Mao, ghếch cẳng bên cầu Nguyễn Huệ và thung thăng vắt chân
chữ ngũ ngồi với biển.
NGUYỄN BẮC SƠN: – Từng con sóng như
mỗi trang sách vậy. Cậu đã làm ra bao nhiêu con sóng to nhỏ dữ lành rồi?
TÔI: – Con sóng nghĩ gì ông biết
không? Nó sẽ hét toáng lên khi nghe ông so sánh thế: “Chúng tôi cần được
quên!”…
NGUYỄN BẮC SƠN: – Nhân vật trong
sách ông ta / Nhiều người chào đời nhiều người đã chết Nhưng không ai hiểu vì
sao mình được sinh ra // Vấn đề dở dang này không làm dở dang tác phẩm / Người
đọc chắc sẽ vô cùng thích thú / Dù cũng không hiểu vì sao…
TÔI: – Ông ta photocopy cuộc sống
hay ông ta sáng tạo cuộc sống – cái gã nhà văn ấy ?
NGUYỄN BẮC SƠN: – Cả hai cách đều
chẳng thể nào mang lại cuộc sống thực. Chúng ta mất nhiều ý nghĩa cuộc đời chỉ
vì chỉ quen giao du mà không chịu giao thoa. Sóng và cát, mối quan hệ này có
cần một nhà thơ suy tư quá nhiều vì nó?
Khi ấy, biển không nói gì hoặc biển
đã nói bằng một thứ ngữ ngôn loài người chưa rõ. Mấy bờ thùy dương cũng vậy.
Lầu Ông Hoàng cổ nghiêng trầm mặc. Triệu vì sao nhấp nháy cùng hàng vạn đám mây
trên không cứ thế… Hóa ra, loài người cô đơn lắm ư? Tôi còn quá nhỏ để cưu mang
niềm bí ẩn không ngừng mang đến đau khổ và khoái cảm ấy, không dưng rơi hẫng
tiếng thở dài giữa trang văn chương bão táp dưới ngòi bút vũ trụ. NGUYỄN BẮC
SƠN đủ già để khiêm cung nhận lấy tâm hồn mình từ chính hai bàn tay mình trao
tặng. Ông ủ ấm nó sau khi tắm táp kỳ cọ cẩn thận dưới nguồn nước dân tộc, ru
ngủ nó và bất chợt đánh thức nó dậy giữa giấc mê, đòi hỏi và chấp nhận một cuộc
sinh nở vô cùng tuyệt diệu: TÂM HỒN PHẢI ĐẺ RA TÂM HỒN. Ngay từ thời thanh
niên, giữa cuộc biến động phải vác súng làm “lính cậu”, chàng trai NGUYỄN BẮC
SƠN đã không cam chịu ký sinh trên cơ-thể-chiến-tranh. Ông trân trọng nhổ vào
nó bằng hết thảy sinh khí tốt đẹp của một người quên bẵn sinh ly tử biệt “Trôi
từ chiếc nôi ra đến nấm mồ”, cũng có lúc tung tích của trí não bất an cựa
quậy “Ta dự tính giã từ vai khán giả / Nối vòng tay, vòng tay lớn Việt Nam”
nhưng rốt cuộc khí khái của hạt cát vô tâm vẫn được giữ gìn trọn vẹn như nguyên
sơ của nó “Dường như kiếp trước ta không phải là kẻ định cư / Trong những
thị trấn đầy phó bản văn minh”. Ông cô đơn ngồi chờ sẵn trên mảnh đất mà có
thời người ta “đi vào chiến tranh như đi chợ / cứ như không ta thì chợ sẽ
buồn” (Hoàng Quý), may mắn thay và đau khổ lắm thay, cô đơn sinh sôi theo
cấp số nhân với mỗi lượt người đến kẻ đi, khi trở về với “hòa bình sao mắt
mẹ chưa vui” (Trịnh Công Sơn) – người đàn ông từng là“một nhà thơ yêu
hòa bình nên bị đời cho đi khiêng đạn” tiếp tục cuộc đày ải với bầy cô đơn
ngun ngút đông giữa chợ đời. Bán gì? Mua gì? Trên gương mặt gầy phảng phất
nhiều nét cuồng bồ tát Bùi Giáng, tôi thấy dư dả hạnh phúc còng lưng sắp hàng
bước nhọc nhằn trên lớp lớp ô vuông ma trận đan cài như con đường bậc thang
chắp nối từ cõi thực chúng ta đến hư vô cõi nào chưa biết. Thói thường, chúng
ta ưa theo chân các nhà khảo cổ học để nuôi niềm hãnh diện về ký ức văn minh
nào đó – Có thực sự công bằng và hữu ích với thế giới hiện tại này không? Con
nước từ nguồn sinh ra cho tới biển cả mênh mông đã trải qua bao nhiêu hình thể làm
sao ai nắm bắt hết được. NGUYỄN BẮC SƠN thì thầm với tôi:
- Chúng ta nên phả hơi sống vào thời
đại mình cho nó có hình thể đã. Chớ uổng công đi ghép nhặt những ảo tượng quá
vãng…
Tôi tin, ông đã chuẩn bị đầy đủ một
cuộc “phá phách” vỹ đại nhất cuộc đời mình sau từng ấy năm mặc cho bầy
cô đơn tung hoành vùng vẫy giữa cánh rừng trọc quá khứ lập lòe ma trơi kỷ niệm.
Sông Mao giàu có nỗi cô đơn huy hoàng.
Tôi rời Phan Thiết vẫn chưa nghe
thấy tiếng vỗ cánh của loài chim Bồ tát trở lại trên nóc nhà thi sĩ. Dưới mái
chòi VẢNH TRE đêm ấy và nhiều đêm sau nữa sương vẫn sương và mảnh khảnh bóng
một người cặm cụi tìm trong khẩn khoản từ tâm gam màu đích thực tô son môi cho
nàng Cleopatra biết cười. ./.
Bà Rịa, 12/2011
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét