Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

Không lời ... (Nguyễn Đại Hoàng)

Bài này cùa anh NĐH tôi đã nhận cách đây mấy ngày, ngay sau khi tôi đăng bài thơ dịch dang dở của tôi lên. Thực ra tựa gốc mà anh NĐH đặt là "Vô ngôn", nhưng tôi mạn phép đổi lại là "Không lời" cho nó ... thuần Việt chút, và theo tai của tôi lúc này thì như thế hay hơn.

Nhận bài thì đã lâu, nhưng tôi chưa đăng vì, như tôi nói với tác giả của bài viết, tôi muốn chờ "một vài ngày nữa, vì không muốn đăng bài nói về bài viết của mình nhiều và liên tục quá, sợ người ta bảo mình tự lăng-xê! :-)". Thậm chí tôi còn định viết một bài với chủ đề khác cho đỡ nhàm chán (vì nói hoài một thứ) rồi mới quay lại bài thơ đang dịch dở dang ấy.

Nhưng rồi bận túi bụi, không tập trung để viết được, trong khi blog lại trống, giống như báo bị đình bản, độc giả chờ đợi hoài cũng ... kỳ, nên thôi, tôi đăng bài của anh NĐH lên vậy. Xin nói thêm là tôi thấy bài viết rất hay, và bài thơ dịch dở dang của tôi đã được dịch hết, mà dịch với một phong cách thi vị hơn nhiều.

Các bạn đọc và enjoy nhé!
------------------------
VÔ NGÔN

Tôi thường bận. Nhất là những ngày đầu tuần. Vậy mà trưa nay tôi lại vào vào trang AV quen thuộc. [ Chắc tôi cũng buồn mà không biết mình buồn.]

Và ở đó tôi thấy một bài Tản Mạn của cô PA. Một thơ dịch còn dang dở như lời giới thiệu của dịch giả. Nhưng thật ra bài thơ đã được dịch gần như trọn vẹn rồi. Dang dở ở đây có lẽ là dịch giả nghĩ rằng mình chưa nói hết những gì cần nói chăng ? Tears : A Silent Expression là một bài thơ lạ, ý tứ thâm trầm, đặc biệt là mấy câu kết gần gủi với người Việt lắm. Bởi không quen viết comment nên tôi viết bài viết rất ngắn này chia sẻ cùng cô PA và các bạn nhé.

1. Chỉ cần đôi mắt :

Ở Việt Nam và trên thế giới, đề tài về đôi mắt và nước mắt là rất nhiều .Vậy mà không biết vì sao tôi lại có ấn tượng mạnh đối với một bài thơ ngắn sau đây của nhà thơ ở tận Rumani xa xôi, nhà thơ Mihai Beniuc :

Steag în zare

Care-au putut veniră după steag,
Era destul de roşu ca să-l vadă,
Iar unii s-au oprit pe cîte-un prag,
Rămaşi nevolniciei proprii pradă.
Eu mă mai duc, dar cînd nu voi putea
Să merg nainte-n viaţă tot năvalnic,
Aprinsul steag în zări l-oi arunca,
Aşa cum marea roşul soare falnic
În dimineţi senine, rumenind
Întinderile verzi şi de argint.

Bài này có nhiều bản dịch, nhưng được biết đến nhiều nhất có lẽ là bản dịch của Phạm Viết Đào :

Chỉ cần đôi mắt

Hãy cưa đôi chân của tôi đi
Ðể tôi khỏi lang thang
Hãy xẻo đôi môi của tôi đi
Ðể tôi không còn hôn em được nữa
Hãy chặt đôi tay của tôi đi
Ðể tôi không thể ôm em
Hãy đập vỡ trái tim tôi
Ðể nó không làm tôi điên dại
Xin hãy để lại cho tôi đôi mắt
Ðể tôi khóc người tình đã mất hút của tôi …

Đúng là một bài thơ tình mãnh liệt, quá mãnh liệt ! Nhưng có một chút đáng tiếc là dịch giả đã sử dụng những động từ cưa, xẻo, chặt, đập …có phần thô bạo. Theo tôi tất cả những động từ đó có thể được thay thế bằng một động từ duy nhất, đó là động từ lấy / lấy đi. Nhưng dù sao cũng phải công nhận rằng hai câu cuối của bản dịch là rất xuất sắc, rất cảm động :

Xin hãy để lại cho tôi đôi mắt
Ðể tôi khóc người tình đã mất hút của tôi …

Có lẽ bản dịch này được phổ biến đến vậy một phần là nhờ hai câu dịch này chăng ?

2. TIẾNG NÓI KHÔNG LỜI

Bài thơ đã được cô PA dịch với tựa đề là Tiếng Nói Không Lời , nguyên tác như sau :

Tears: A Silent Expression

Tears are a symbol of unspoken love, contrary to the belief that they are a sign of weakness. Read a thought from my tears...

Meandering through the corners of the Eyes,
Few drops of liquid fall,
Men called it Tears,
Pain, joy, fear and lovely memories all it expresses,

Following a line, crossing the cheek,
Wetting the face, like drops of pearl they shine,
A silent symbol of pain,
A testimony of mind's agony,
A natural catharsis of the emotional and physical stress,
A way to feel better, a path to solace.

Mr. heart gives the first signal when the river of tear is going to be on the high tide,
It may be the time you had a baby, it may be the time you met with an accident,
May be the time your loved one bid you a final goodbye,
May be you lost your puppy, May be you won a prize,
May be you lost a game after years of working hard,

Be it a joy or a pain,
Heart begins to feel heavy, face anxious,
Stimulating the tear buds, eyes experience a whirlpool
Often you try, but you can't control,
Tears are such, if they once start, you can't stop,
Defying all the laws of dynamics,
They break free the chains of eyes,
And start flowing till they dry,

Assumed as a sign of weakness, they are hardly those,
For they represent a source of strength,
For all I could do when I saw the distance between you and me growing,
Was to let these Tears answer everything,
Conveying all the love, all the grief, in few drops of water,

Now, when you are infinitely separated,
I have made a river of Tears,
and I sail my life-boat often in it, in times of desperation,
Searching you on the shores of memory,
Often I get your glimpse, often I don't,
I emerge out from it as a winner, defying all odds...
But still with few drops of Tears on my cheek,
As a mark that I miss you...

Kundan Pandey

Bài thơ được trình bày như một tản văn, nửa thực, nửa ảo, nhân vật cũng có thể là tác giả mà cũng có thể ai đó, có thể là tất cả chúng ta nữa. Các bạn đã biết đến bản dịch của cô PA, nay xin chia sẻ thêm cùng các bạn bản chuyển ngữ của tôi :

NƯỚC MẮT VÔ NGÔN

Những giọt nước mắt là để nói hộ cho một Tình Yêu không nói được, hoàn toàn không phải dấu hiệu của sự yếu đuối. Hãy cảm nhận tâm tư của tôi về những giòng nước mắt …

Chực rơi trong ánh nhìn
những giọt buồn trong vắt
ta gọi là nước mắt
nước mắt nói những gì
nỗi sợ hãi , sầu bi
yêu thương ngày tháng cũ

Nước mắt rơi trên má
đẫm ướt mặt người thương
những giòng châu lấp lánh

Một niềm đau thầm kín
một cõi lòng nát tan
đến tận cùng cảm xúc

Nước mắt là lối thoát
tâm hồn và thể xác
tìm lại chút bình yên
Tín hiệu từ con tim

Khởi nguồn giòng nước mắt
mừng đón đứa con đầu
giòng nước mắt trầm sâu
kiếp nạn đời bể dâu
người thân yêu vĩnh biệt

Một thú cưng thất lạc
Một canh bạc tan hoang
Một lần giành thắng lợi
Một lần nước mắt rơi

Buồn vui trong cuộc đời
con tim và nước mắt
mặt người chìm trong đêm !

Luôn luôn phải kìm nén
Nhưng không thể trời ơi !
Nước mắt cứ tuôn rơi
Cho đến khi khô cạn

Không phải là yếu đuối
Nước mắt là sức mạnh
Nói thay cho tất cả
Yêu thương ngày mỗi xa …

Hãy để em dong cánh buồm tình yêu trong nước mắt
Hãy để em tìm anh bên bến bờ của ký ức phôi pha
tìm anh qua một tia chớp năm xưa
tìm anh nhưng lòng sao ái ngại

Hãy để em nghĩ mình là người bất bại
Hãy để mọi điều như một giấc mơ qua
Nhưng với những giọt lệ buồn
Còn vương trên má
Mới biết là …
Em không thể quên anh !

Kundan Pandey / NĐH chuyển ngữ

KẾT :
Vâng nước mắt là vậy. Là tiếng nói không lời. Là sức mạnh mãnh liệt.Trong đời thường, trong tình yêu đôi lứa, trong tình yêu quê hương. Nguyễn Hiến Lê đã thật có lý khi dịch nhan đề Cry, the Beloved Country của Alan Paton thành Khóc lên đi, ôi quê hương yêu dấu !

NGUYỄN ĐẠI HOÀNG
6/2013

Câu chuyện nước Mỹ: Chó Hoa Kỳ

Hiệu Minh Blog

Một gia đình Mỹ. Ảnh: HM
Một gia đình Mỹ. Ảnh: HM
Hồi mới sang Mỹ (2004), Bin và Luck tới nhà anh Lê Vũ và chị Thanh Hà chơi, thấy chú chó cún cực xinh, chạy ra mừng rối rít thì hai tướng khóc thét, nhảy lung tung. Cún con được thể càng sủa, bữa đó mất vui. Bởi hồi ở làng Sài, các cậu hay bị chó đuổi và dọa cắn, nay thấy giống 4 chân này, hồn vía lên mây.

Bố chúng cũng chẳng hơn gì. Thời trẻ đi tán gái, gặp nhà nàng nuôi chó Nhật. Mình cứ tới là chó sủa ầm ỹ chắc do đi xe đạp, quần áo lôi thôi. Nhưng tay khác đến quần là áo lượt, xe Dream bóng loáng, chó chạy ra vẫy đuôi mừng. Từ đó mình mới hiểu thành ngữ chó cắn…áo rách ;)
Thời du học (1970), học tiếng Ba Lan ở Krakow do thầy giáo già Alser dạy. Nhớ hôm có mục đọc báo Wyborcha (Công nhân), có tin TT Nixon ra lệnh ném bom miền Bắc, thầy hỏi, các em có ghét không.
Cả bọn đồng thanh, Nixon là con chó. Ông Alser trợn ngược mắt, sao lại quí Nixon, y ném bom giết hại bao nhiêu người. Sau mởi vỡ lẽ, dân Ba Lan quí chó như người.
Tới nhà chơi thấy ông bà ôm chó vào lòng, mình nhớ lại đám chó nhà quê toàn ăn cứt trẻ con, nên ghê ghê.
Mấy thằng bạn bảo, thịt chó nhà thầy chắc không ngon, vì toàn ăn thịt. Thịt ngon phải là chó kiếm ăn ở chuồng xí.
Ông bà giáo suýt ngất vì lũ trẻ quê mùa. Sự khác biệt văn hóa chó đã gây những chuyện khó tin.
Chuyện chó mèo bên Mỹ
Bên Mỹ, chủ đi chơi với chó phải mang theo túi ni lông để hót phân chó. Vắng nhà, thuê người theo giờ giá khoảng 15-20$/giờ, ngày hai lần. Mình định sau này về hưu chỉ đi dắt chó đi chơi, kiếm khối tiền.
Đi lâu ngày phải gửi khách sạn chó. Chó ốm đi bệnh viện như người, mua bảo hiểm, đi cắt…lông, một phát 70$/lần, trong lúc Tổng Cua ra Eden mất 15$ kể cả típ. Không phải vì thế mà họ phiền lòng vì chó.
Mình có anh sếp Robert Voight nuôi con chó 20 năm. Một hôm, đến vp thấy anh rơm rớm nước mắt. Hỏi sao, my dear son died. How come, he ate a dead bird.
Con trai tôi chết rồi. Trời ơi, sao vây. Vì ăn phải con chim chết, đau bụng, không chữa được. Cả nhà khóc mấy hôm nay.
Hỏi kỹ mới biết là con chó nhà anh được coi như con trong nhà và anh gọi nó là “son – con trai”.
Cả nhà làm đám ma rất to, để tưởng nhớ người thân yêu, mai táng ở góc vườn theo đúng nghi lễ, có chứng kiến của bác sỹ chuyên vệ sinh môi trường.
Các cụ về hưu. Ảnh: HM
Các cụ về hưu. Ảnh: HM
Chục năm trước, nhà anh Lê Vũ có cô con gái tuổi teen phá dữ lắm, hay nổi khùng. Chả hiểu ai xui thế nào chị Hà mua một con cún về. Tự nhiên cháu đổi tính nết, hiền dịu hẳn. Đi đâu về cũng ôm chó, dạy chó.
Bây giờ cún biết làm xiếc, lăn mấy vòng, đếm từ 1 đến 5, biết chào và nằm im. Anh chị hưu nên ngoài đánh golf là chơi với chó. Bin và Luck tới chơi rất thích và đòi bố mẹ mua cho một con.
Anh Vũ Duy Mẫn có cháu Duy Anh vừa tuổi 20 gì đó. Thằng cu này cứ lên xe hơi là phóng kịch kim, toàn bị ticket, bố đóng bảo hiểm mệt nghỉ. Chả hiểu sao, sinh nhật mấy năm trước, đứa bạn tặng cho con cún bằng nắm tay. Từ khi có chó con, cháu rất thích, ít ra quảng trường thời đại New York phóng xe.
Chị bạn của Tiger làm ở Eden Center thấy có người rao bán hai cún con với giá vài trăm đô. Nhưng chị phải chuyển việc về California, định mua mua vé máy bay nhưng giá hàng ngàn đô. Cuối cùng, ông chồng lóc cóc lái xe xuyên qua nước Mỹ, cả đi lẫn về mất tới 3 tuần chỉ để chở chó.
Anh bạn Marty nuôi con mèo. Đi đâu cũng chỉ kể về mèo nhà tôi thế này, mèo nhà tôi thế kia. Biết đi vệ sinh vào lavabo, giật nước như người. Không có con nên chỉ tập trung vào mèo.
Nhưng bỗng một hôm, mèo lôi một con chim sẻ bị vồ ngoài vườn về, máu vương vãi khắp nhà. Vốn đời, mèo đã quen mui vồ chim thì thế nào cũng tập dượt, xem cái giống này hót hiếc thế nào khi đã ở trong miệng đầy răng. Kiểu như bên ta bắt blogger, cho vào trại xem có re-com nữa không.
Ngày nào Marty về nhà, không thấy mèo vồ chim là sướng lắm. Nhưng tần suất vồ trúng quá cao, cuối cùng đành đưa mèo đi trại cải tạo, huấn luyện không được vồ chim.
Chị hàng xóm có berger to đùng, cỡ 30-40kg. Nàng hay sủa làm hàng xóm già về hưu phải cáu kỉnh. Cãi nhau đưa lên xã, xã xuống hòa giải, và quyết định, chó nhà chị phải đi phục hồi nhân phẩm vì đã sủa không đúng lúc, làm phiền nhà bên cạnh. Chị uất ức kể cho Tiger nghe và quyết định đi nghỉ ở Hawaii cho đỡ stress vì cô chó yêu bị xúc phạm.
Nền kinh tế nuôi súc vật trong nhà
Hỏi chuyện dân Mỹ, nhất là gia đình không con cái, tại sao thích chó. Đơn giản, nuôi chó đỡ tốn. Một đứa chó chi khoảng 1200-2000$/năm, một đứa người gấp 10 lần thế nhưng chưa chắc bọn ấy đã vừa lòng.
Có đứa còn bảo “Tôi ra đời là ngoài ý muốn của tôi, mà do lỗi lầm của ông bà, ông bà phải có trách nhiệm”, các cụ định cãi thế nào :?::roll:
Thằng người đòi đủ loại từ quần áo giầy dép, đồng hồ, games đến đi du lịch. Trong khi chó có gì mặc nấy, không có vòng đeo cổ cũng chẳng sao. Hót cứt khi đi dạo cho chó thì cũng như rửa đít cho con, có khác đâu.
Chó mèo. Ảnh: Internet
Chó mèo. Ảnh: Internet
Chó lại không biết cãi như người. Đi đâu về cũng vẫy đuôi mừng, không như thằng con thấy bố về là mặt sa sầm, phiền nó đang sex với con bồ trong phòng riêng.
Chủ già thì nó nằm bên cạnh. Bố mẹ già thì đám con cứ băn khoăn, sao mãi mà lão khốt chưa…đi, để còn chia gia tài. :):roll:
Từ năm 1970 đến năm 2010, Hòa Kỳ có số chó mèo tăng từ 67 triệu lên 164 triệu, trên tổng số dân khoảng 315 triệu. Như vậy cứ hai người Mỹ thì có một con chó hoặc mèo.
Theo số liệu của hiệp hội súc vật nuôi ( American Pet Products Association – APPA). thì riêng năm 2012 có tới 78,2 triệu con chó, hay là 46% gia đình Mỹ có chó. 60% nuôi 1 con chó, và 28% nuôi hai con chó. Mỗi gia đình sở hửu 1,7 con chó. Hàng năm chủ chó tiêu trung bình 248$ để đến bác sỹ thú y.
Cũng theo số liệu APPA, chó nàng và chó chàng có tỷ lệ ngang nhau, nhưng chó nuôi nhà hầu hết là hoạn quan hay hoạn thư, đỡ ư ử hứng tình khi nhìn thấy gái.
Hoa Kỳ có cả một nền công nghiệp nuôi súc vật trong nhà trị giá năm 1994 là 17 tỷ đô la, và năm nay (2013) khoảng 56 tỷ đô la, bằng đúng dự án đường sắt cao tốc Việt Nam, gấp 3 dự trữ ngoại tệ của anh thống đốc Bình.
Thức ăn chiếm khoảng 21 tỷ, các loại đồ vật dụng, chuồng, chăn quần áo chiếm tới 13 tỷ, bảo hiểm y tế 2 tỷ, rồi cắt tóc cho chó mèo, nuôi hộ. Riêng dịch vụ mai mối, cưới xin cho chó mèo cũng cỡ khoảng 4-5 tỷ đô la.
Dân Mỹ trung bình chi cho một con chó khoảng 1200-1300$/năm, bằng lương năm của Tổng Cua thời huy hoàng tại viện IOIT.
Chó Mỹ quí thế nên nghe dân Á ta thịt chó là họ ghê cả người vì đám man di mọi rợ.
Nhưng dân Mỹ sang VN lâu ngày cũng bị dân ta rủ đi Nhật Tân, đồng hóa bằng cầy tơ bẩy món, lòng chấm mắm tôm, vào nhà nghỉ với chân dài, nhổ lông, họ về Mỹ thấy chó cũng…thường.
Còn mấy thằng cha ghét chó, do ngày xưa đi tán gái bị sủa, nay hiểu ra một điều, muốn yêu nàng thì phải yêu cả con chó nằm trong lòng nàng.
Diễn văn thế kỷ về chó.
Kết thúc entry bằng Diễn văn của luật sư George Graham Vest tại phiên tòa xử vụ kiện hàng xóm làm chết con chó, được phóng viên William Safire báo New York Times bình chọn là một trong bài diễn văn hay nhất về loài chó. Cảm ơn bạn đọc nào đã dịch rất hay trên internet.
Thưa các quí vị
Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hóa ra kẻ thù chống lại chúng ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu thương hết mực rồi cũng có thể sẽ là một lũ vô ơn.
Nghĩa trang chó
Nghĩa trang chó
Những người gần gũi, thân thiết nhất mà người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có được rồi sẽ mất đi, thậm chí còn luôn mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất.
Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại dột. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt, có thể sẽ là những kẻ ném đá vào ta khi ta sa cơ lỡ vận.
Duy có một người bạn không vụ lợi mà con người có thể có trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ vô ơn hay tráo trở, đó là chú chó của ta.
Nó luôn ở bên cạnh ta trong những lúc phú quý cũng như bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh dù gió đông giá rét hay bão tuyết vùi lấp, miễn sao được cận kề bên chủ. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn cho nó.
Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy xước mà ta phải hứng chịu khi va chạm với cuộc đời bạo tàn này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn chú chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời.
Nếu chẳng may số phận hắt ta ngoài rìa xã hội, không bạn bè, không nơi ở thì chú chó trunng thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước nguy hiểm, giúp ta chống lại kẻ thù…
Và khi trò đời hạ màn, thần chết đến rước phần hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, lúc tất cả thân bằng gia quyến đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, vẫn còn bên nấm mồ của ta – chú chó cao thượng nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã đi vào cõi hư vô!
HM. 29-06-2013
Chó Mỹ. Ảnh: HM
Chó Mỹ. Ảnh: HM
Chó xứ quen. Ảnh: internet
Chó xứ quen. Ảnh: internet
Pupy Dog
Pupy Dog. Ảnh: Internet

Định hướng Trung Quốc?

T/S Alan Phan




Đồng Đăng đây, nọ Bình Tường

Song song đôi mặt như gương với hình

Bên ni biên giới là mình

Bên kia biên giới cũng tình quê hương

(Thơ Tố Hữu)


Trong cuộc phỏng vấn ngày 19/6/2013 với RFI, và trong cuộc điều trần tại Quốc Hội Mỹ trước đó, G/S Carl Thayer đã phân tích và kết luận là Việt Nam đã chọn Trung Quốc làm đối tác chiến lược căn bản, nhất là trong các vấn đề chính trị và kinh tế; do đó, vai trò của Âu Mỹ sẽ mờ nhạt tại Việt Nam trong tương lai. Các diễn biến gần đây cho thấy GS Thayer khá chính xác trong việc chuần mạch.

Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh tuyên bố là quan hệ Việt-Trung đã đi vào một bước ngoặt mới rất tích cực sau chuyến viếng thăm của Chủ Tịch nước Việt qua Trung Quốc. Dù là viên tướng Bắc Việt đầu tiên thăm Ngũ Giác Đài, Tổng Tham Mưu Trưởng Đỗ Bá Tỵ đã minh định rõ quan điểm của mình trước đó,” Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng núi liền núi, sông liền sông. Mối tình hữu nghị Việt-Trung, tài sản vô giá do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông sáng lập và dày công vun đắp đã ngày càng phát triển mạnh mẽ và được nâng lên thành quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.”




Nhiều bạn BCA hỏi thăm về hệ quả của bước ngoặt này trong nền kinh tế tài chánh sắp đến. Nếu Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ không xẩy ra, liệu kinh tế Việt Nam có phục hồi vào 2015 như dự đoán? Những ngành nghề và phân khúc thị trường nào sẽ phát triển, và ngược lại? Thành phần nào sẽ hưởng lợi, và ngược lại? Liệu môi trường vĩ mô có giúp cho các doanh nghiệp tư nhân hay ngược lại? Chúng ta nên đầu tư tiền nhàn rỗi vào đâu?

Con đường mới

Trước hết, xin thưa rõ là tôi sẽ không bình luận gì về ảnh hưởng của sự lựa chọn này trên địa chính trị hay các uẩn khúc phía sau. Đây là vùng cấm kỵ và tôi cũng không có thông tin ngoài luồng nào. Nếu thuần túy nhìn về khía cạnh kinh tế thì tôi cho rằng đây là một quyết định tích cực. Tôi luôn than phiền về “con thuyền không bến” của một nền kinh tế “dở dở ương ương”, nửa thị trường nửa xã hội nửa tả pín lù. Ít nhất, các nhà lãnh đạo xứ này đã không còn dặm chân tại chỗ và quyết định lái chiếc xe ra khỏi bùn lầy và đi về hướng …Trung Quốc. Đi đâu thì đi, nhưng chúng ta sẽ được …chuyển dịch.

Đây là một con đường mới, vì Trung Quốc không theo nền kinh tế thị trường của toàn cầu hay có định hướng XHCN như Việt Nam ta. Nền kinh tế chính trị Trung Quốc được mô tả như là một mô hình…có tính chất Trung Quốc…nói nôm na là…chủ nghĩa Đại Hán đại đồng (không khác gì lắm với chiêu bài Đại Đông Á của phát xít Nhật vào thế chiến thứ 2). Thực ra, kinh tế Trung Quốc rất tư bản (kiểu hoang dã và bè nhóm), không có định hướng xã hội dù vẫn trưng cờ CS và cũng không là kinh tế do thị trường quyết định mà là do sự vận hành tùy tiện của quan chức Trung Ương và địa phương.

Ảnh hưởng của Trung Quốc

Vì chúng ta đi theo con đường Trung Quốc thì viễn cảnh của mọi ngành và mọi người sẽ không khác xa với Trung Quốc bao nhiêu. Bức tranh tổng thể của một Việt Nam đi sau Trung Quốc 15 năm sẽ được sao chép giống một tỉnh trung bình của Trung Quốc vào 2000, với nhiều tiến bộ hơn về IT và mậu dịch, nhưng cũng nhiều tổn hại hơn về môi trường và an toàn thực phẩm.

Cái lợi lớn nhất khi hai kinh tế Việt-Trung hội nhập là sự ổn định của chánh sách. Dường như mọi doanh nhân đều hiểu các quy trình hành chánh và liên hệ chánh trị cần có cho những phi vụ, từ doanh nghiệp nhà nước đến công ty tư nhân. Như cái bánh khi hoàn tất (hay chưa hoàn tất), các phần chia chác cho khách ẩm thực đã được quyết định từ trước. Không gì bất ngờ.

Cái hại lớn nhất là hàng hóa và đầu tư Trung Quốc sẽ tràn ngập, tỷ lệ mậu dịch và gia công sản xuất sẽ lớn hơn con số 80% hiện nay. Doanh nhân Việt nam sẽ giữ vai trò lép vế và phần bánh lớn nhất sẽ thuộc về doanh nhân Trung Quốc. Quan trọng hơn, Trung Quốc có thể xuất khẩu “ô nhiễm môi trường” qua Việt Nam, trước hết bằng những công nghệ lạc hậu và sử dụng nhiều năng lượng.

Tệ hại hơn nữa là sự “rút ruột” những tài nguyên như lâm sản, khoáng sản và nông hải phẩm. Trong khi đó, các thương hiệu của thực phẩm Việt Nam có thể bị hoen ố như Trung Quốc trong các thị trường xuất khẩu Âu Mỹ.

Phân khúc và thành phần hưởng lợi

Giống như Trung Quốc, những ngành nghề thăng hoa trong nền kinh tế này sẽ gồm các doanh nghiệp nhà nước, các dự án khủng có chánh phủ bảo kê, các ngân hàng và định chế tài chánh, các công ty BDS, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, lâm sản, các hãng cung cấp dịch vụ viễn thông, các nhà sản xuất công nghiệp có ưu tiên về độc quyền hay liên hệ…

Với sự tiếp tay của các tập đoàn lớn Trung Quốc, nhiều doanh nhân Việt trong các ngành nghề nói trên sẽ kiếm tiền nhiều hơn (Forbes sẽ đăng cai thêm vài ông bà tỷ phú đô la). Nhập siêu vẫn cao vì phần lớn kỹ nghệ Việt có bản chất là gia công, tuy nhiên thị trường lớn của Trung Quốc cũng sẽ hấp thụ thêm rất nhiều hàng Việt.

Ngành du lịch cũng sẽ hưởng lợi vì doanh nhân Trung Quốc sẽ tự tay khai thác thị trường này qua các tours dành cho du khách Trung Quốc. Bù lại, du khách Âu Mỹ sẽ rút lui vì họ thường “kỵ đụng độ” với du khách Tàu. Tóm lại, số lượng khách sẽ đông hơn nhiều nhưng chất lượng khách sẽ giảm mạnh.

Những ngành nghề bị thử thách

Trong một nền kinh tế mà DNNN và các nhóm lợi ích chi phối, những doanh nghiệp nhỏ lẻ tư nhân (SME) sẽ không cạnh tranh nổi để thu hút các nguồn lực như tài chánh, thị trường, nhân sự, giấy phép…và sẽ nắm một vai vế thứ yếu. Ngoài những doanh nghiệp làm việc trực tiếp cho chánh phủ và Trung Quốc, các ngành nghề sản xuất cũng như dịch vụ sẽ không phát triển nổi. Số người khởi nghiệp kinh doanh sẽ ít dần và môi trường nuôi dưỡng sáng tạo trên thương trường sẽ bị bào mòn.

Nền kinh tế Việt sẽ tiếp tục xếp hạng cuối tại ASEAN về thu nhập cá nhân, về khả năng cạnh tranh, về thị phần quốc tế, về hiệu quả đầu tư…so với các nước láng giềng. Vời Trung Quốc, chúng ta sẽ giữ khoảng cách 15 năm sau họ.

Nông nghiệp có thể phát triển mạnh hơn nhờ đầu tư Trung Quốc; tuy nhiên, tỷ lệ lợi nhuận cho nông dân có thể giảm khi các thương lái Trung Quốc kiểm soát thị trường. Vả lại, nông nghiệp không phải là điểm mạnh của nền kinh tế Trung Quốc.

Môi trường sống

Mối quan tâm mà các chuyên gia kinh tế phải cảnh báo là vấn đế an toàn thực phẩm và nạn ô nhiễm toàn diện trên không khí và các nguồn nước. Đây là vấn nạn lớn nhất của Trung Quốc vì chánh phủ Tàu không cách nào giải quyết được. Việc tạm ngưng các giấy phép kinh doanh cho những doanh nghiệp Trung Quốc gây ô nhiễm nặng sẽ đẩy họ đi tìm những quốc gia “dung thứ” cho những lạm dụng này. Việt Nam, Kampuchia và Lào là 3 nơi gần nhất.

Trong khi đó, có thể nói “thế lực thù địch” lớn nhất của chế độ và xã hội Trung Quốc không phải là Mỹ hay các nhà đối lập. Đó là sự an toàn thực phẩm. Các cha mẹ có con trẻ phải bay qua các nước Nhật, Hàn, Thái Lan hay Hong Kong, Macau…để khuân sữa bột về. Các tầng lớp có tiền than phiền hàng ngày trên những blogs cá nhân là họ không còn thưởng thức hương vị của bất cứ món ăn gì…vì sợ. Sự bất an do hóa chất, nguyên liệu đểu, cách pha nấu, vi phạm luật nhờ “lại quả”…gây ra trên thực phẩm là một sự bất an chia đều trên mọi thành phần dân chúng (già trẻ lớn bé, nam nữ giàu nghèo). Cái stress hiện diện 3, 4 lần mỗi ngảy sẽ hủy hoại tinh thần những con người mạnh mẽ nhất.

Trên hết là sự hiện diện liên tục của nền văn hóa tham lam, vô cảm và giả dối trên mọi hành vi xử thế; cũng như tư duy lợi ích cá nhân luôn đặt lên trên luật pháp và xã hội. Một xã hội như vậy sẽ kéo dài đến bao lâu? 92 năm đă qua tử ngày Mao sáng lập đảng CS Trung Quốc. Liệu các lãnh đạo hiện tại có thể kéo dài tuổi thọ thêm 92 năm nữa? Nếu được, đó sẽ là một phép lạ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại…

Cảnh giác với những khoản vay từ Trung Quốc

L.A.H




“Món quà” của người “bạn tốt”
Chuyến thăm Trung Quốc từ ngày 19/6 đến 21/6 vừa qua của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận trong bối cảnh tình hình khu vực đang nóng lên trước một Trung Quốc không ngừng trỗi dậy mạnh mẽ và ngày càng bộc lộ cuồng vọng bá quyền khiến cả thế giới phải dè chừng.



Một trong những “món quà” của Trung Quốc mà phái đoàn Việt Nam mang về nước là khoản vay ưu đãi 320 triệu nhân dân tệ cho dự án hệ thống thông tin đường sắt và một hiệp định cho vay khác dành cho dự án nhà máy đạm than Ninh Bình trị giá 45 triệu USD.



Việc các quốc gia phát triển cao hơn dành những khoản viện trợ phát triển hay tín dụng ưu đãi cho những quốc gia có trình độ phát triển thấp hơn là một điều bình thường xưa nay. Kể từ khi bắt đầu “đổi mới”, mở cửa đến nay, cộng đồng quốc tế vẫn thường dành cho Việt Nam sự hỗ trợ như thế, đặc biệt là các khoản vay ưu đãi.



Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, kèm theo những khoản vay đó là những điều kiện mà bên cho vay đặt ra. Có những điều kiện có lợi cho Việt Nam, chẳng hạn như yêu cầu về sự công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dự án liên quan; có những điều kiện có lợi cho quốc gia cho vay: ưu tiên nhập máy móc thiết bị từ nước họ hoặc trao các gói thầu cho nhà thầu của họ. Những khoản vay đến từ các quốc gia phát triển thường đem lại hiệu quả thiết thực cho Việt Nam, bởi ngay cả điều kiện có lợi cho bên cho vay thì nhìn chung cũng chấp nhận được nếu xét đến trình độ khoa học – công nghệ và quản lý hàng đầu thế giới của họ.



Và những hệ luỵ khó lường



Đáng tiếc là thực tế trên đây lại không đúng với với người láng giềng “4 tốt, 16 chữ vàng” của Việt Nam. Người ta thường nói: “Chẳng ai cho không ai cái gì”. Câu châm ngôn này xem ra rất đúng với Trung Quốc, và càng đặc biệt đúng trong mối quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1950.



Ngược dòng thời gian, ngay từ những năm 1950, khi mà mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” của hai quốc gia cộng sản đang ở thời kỳ “trăng mật”, Trung Quốc đã lợi dụng danh nghĩa “giúp” Việt Nam để lấn chiếm lãnh thổ với đủ mọi thủ đoạn khác nhau.



Với những toan tính chiến lược thể hiện đúng “bản sắc” của mình, Trung Quốc luôn quan tâm đến các dự án hạ tầng quan trọng ở Việt Nam. Và họ hiện là nhà thầu thống trị các dự án trọng điểm quốc gia của Việt Nam; đồng thời, họ cũng rất “nổi tiếng” về chất lượng và tiến độ thực hiện các dự án đó. Thủ thuật thông thường của họ là đưa ra giá đấu thầu thật thấp để trúng thầu rồi sau đó sẽ tìm đủ mọi cách hòng kiếm chác, để lại những thiệt hại không thể đong đếm cho phía Việt Nam, cả về kinh tế lẫn an ninh – quốc phòng. Ngoài ra, một lá bài rất hữu hiệu khác mà họ hay sử dụng là “cho vay ưu đãi” hoặc “thu xếp vốn” để được giao thực hiện dự án, đặc biệt là những dự án nhạy cảm về an ninh – quốc phòng.



Ví dụ điển hình ở đây là dự án đường sắt đô thị của Tp Hà Nội, tuyến Cát Linh – Hà Đông. Tuyến đường sắt trên cao này được khởi công ngày 10/10/2011, với tổng mức đầu tư 533 triệu USD, trong đó nguồn vốn vay của Trung Quốc là 419 triệu USD. Không chỉ tổng thầu EPC của dự án là công ty Trung Quốc (Công ty Hữu hạn Tập đoàn Cục 6 Đường sắt Trung Quốc) được chỉ định thầu mà nhà thầu tư vấn giám sát thi công và lắp đặt thiết bị cũng là một công ty Trung Quốc nốt (Công ty TNHH Giám sát Xây dựng Viện Nghiên cứu Thiết kế Công trình Đường sắt Bắc Kinh). Với một dự án rất nhạy cảm về an ninh – quốc phòng như vậy thì đây quả là điều hết sức khó chấp nhận, nhất là khi chúng ta biết rằng công nghệ đường sắt của Trung Quốc còn kém xa thế giới, mà vụ tai nạn tàu cao tốc thảm khốc ngày 23/7/2011 tại Ôn Châu (Triết Giang, TQ) là một minh chứng rõ ràng.



Dự án hệ thống thông tin đường sắt nói trên hầu như chắc chắn sẽ lọt vào tay nhà thầu Trung Quốc. Họ sẽ kéo theo một lô một lốc những công nghệ, thiết bị và cả con người sang Việt Nam để thực công trình biểu tượng cho “tình hữu nghị thắm thiết” này.



Và rồi chúng ta không chỉ phải đối mặt với một khả năng rất lớn là chất lượng hệ thống thông tin đường sắt không đảm bảo như ý muốn mà cả những mối đe doạ tiềm ẩn liên quan đến an ninh quốc gia. Bởi một khi xung đột giữa hai nước nổ ra – điều xem ra không dễ tránh khỏi trước cuồng vọng bành trướng không hề che dấu của Trung Quốc trên Biển Đông – thì với “biệt tài” của mình, người “bạn tốt” của chúng ta hoàn toàn đủ khả năng làm tê liệt toàn bộ hệ thống đường sắt của Việt Nam. Thiết tưởng vụ mất điện toàn miền Nam chiều ngày 22.5 vừa qua là một lời cảnh tỉnh cho những ai còn mơ hồ về một mối đe doạ khủng khiếp khi mà Việt Nam gần như đã dâng cả ngành điện lực cho Trung Quốc suốt nhiều năm qua.




Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả



Đọc thêm:


Vị đắng khi lệ thuộc vốn vay Trung Quốc


PHẠM HUYỀN
Nhiều dự án của Việt Nam phải thuê nhà thầu Trung Quốc bởi một lý do “bất khả kháng”: nguồn vốn vay từ chính Trung Quốc. Và khi dự án có vấn đề về chất lượng thì các chủ đầu tư Việt Nam chỉ còn nước “ngậm bồ hòn làm ngọt”

Cái khó xử khi nhận vốn của Trung Quốc

Trung Quốc không phải là nước thuộc nhóm cung cấp vốn hỗ trợ phát triển ODA lớn cho Việt Nam, cũng không phải là nước bỏ vốn đầu tư trực tiếp (FDI) thuộc TOP 10 ở Việt Nam.

Nếu tính theo số các dự án FDI còn hiệu lực, hơn 20 năm qua, FDI từ Trung Quốc chỉ có 3,184 tỷ USD, đứng thứ 14 và chiếm 4% tổng vốn FDI của 92 quốc gia, vùng lãnh thổ đã đến Việt Nam. Riêng năm 2010, Trung Quốc đứng thứ 11 với tổng vốn 364,6 triệu USD, chỉ chiếm hơn 1% tổng vốn FDI cả năm của Việt Nam.

Thế nhưng, thực chất, dòng vốn Trung Quốc chảy vào Việt Nam lại không hề nhỏ.

Cho tới nay, chưa có bộ ngành nào thống kê cụ thể, Việt Nam đã vay bao nhiêu tiền của Trung Quốc. Chỉ thấy rằng, ở hầu khắp các ngành công nghiệp, năng lượng của Việt Nam, vốn vay ưu đãi lãi suất thấp từ Trung Quốc đang đóng vai trò rất quan trọng, chủ yếu là từ đầu mối Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc (China Eximbank).

Đơn cử như ở ngành điện, trong tổng số 9 dự án nhiệt điện do Tập đoàn Than – Khoáng sản làm chủ đầu tư, hiện có 4 dự án vay vốn tín dụng xuất khẩu hoặc ODA của Trung Quốc.

Đó là các dự án nhiệt điện Cao Ngạn, Sơn Động, Cẩm Phả, Mạo Khê đều chủ yếu vay tín dụng xuất khẩu của ngân hàng China Eximbank. Dự án có tổng vốn đầu tư ít nhất cũng hơn 3.500 tỷ đồng. Các dự án điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng vay từ ngân hàng này không hề ít, ví dụ như dự án nhiệt điện Quảng Ninh 1 và 2, dự án Hải Phòng 1 và 2, dự án nhiệt điện Uông Bí mở rộng…

Mới đây nhất, 18/12/2010, Bộ Tài chính cũng đã ký hiệp định vay 300 triệu USD với China Eximbank cho dự án nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (2 x600MW).

Trung bình mỗi dự án điện công suất 300MW trở lên của Việt Nam có tổng vốn đầu tư trên 500 triệu USD. Nếu dự án vay từ China Eximbank thì nguồn vốn này thường chiếm khoảng 85% tổng vốn đầu tư.

Như vậy, ước tính, tổng vốn vay của Trung Quốc chỉ riêng cho ngành điện Việt Nam đã là con số hàng tỷ USD.

Không chỉ là ngành điện, nguồn tín dụng ưu đãi của Eximbank còn có mặt ở nhiều dự án trọng điểm của các ngành công nghiệp khác. Ví dụ như ngành hóa chất với dự án đạm từ than cám Ninh Bình do Tổng công ty Hóa chất Việt Nam làm chủ đầu tư, cũng sử dụng nguồn vốn 500 triệu USD theo hiệp định tín dụng xuất khẩu ký với Trung Quốc. Dự án sản xuất khuôn mẫu và trục in nhựa của Tổng công ty Nhựa Việt Nam cũng vay tín dụng ưu đãi của Chính phủ Trung Quốc trị giá 50 triệu Nhân dân tệ.

Trao đổi với PV. VEF, một lãnh đạo ở Bộ Công Thương từng chia sẻ, khi các nhà thầu Trung Quốc vào Việt Nam, nhận thấy điểm yếu là thiếu vốn, họ nhanh chóng đặt vấn đề: nếu phía Trung Quốc lo thu xếp vốn được cho dự án thì bù lại, hãy giao dự án đó để họ làm.

Với một lời đề nghị hấp dẫn như vậy thì quả thực, các chủ đầu tư Việt Nam khó lòng từ chối. Theo thông lệ quốc tế, khi đã nhận vốn vay của một nước, chủ đầu tư sẽ phải tổ chức đấu thầu hạn chế, chỉ mở thầu cho các nhà thầu nước cho vay tham gia. Đó là lý do bất khả kháng để các dự án lớn trên của Việt Nam phải chọn nhà thầu Trung Quốc và nhập khẩu lớn thiết bị, máy móc của nước này.

Trở đi mắc núi, trở lại mắc sông

Nhưng lẽ thường, sự hấp dẫn của một chính sách về vốn như vậy bao giờ cũng có tính hai mặt. Chính sách vay vốn của Trung Quốc có thể rất thông thoáng, nhưng đôi khi, cũng có vị đắng mà các chủ đầu tư Việt Nam chỉ còn nước “ngậm bồ hòn làm ngọt”.

Một chuyên gia trong ngành cắt nghĩa với VEF rằng, ngân hàng của Trung Quốc – với tư cách là người thẩm định hồ sơ vay vốn, có quyền kiểm duyệt các điều kiện kỹ thuật trong dự án. Điều kiện đó liệu thích hợp với các nhà thầu của nước họ không? Từ đó, họ có quyền đòi hỏi phải hạ thấp một số tiêu chí để các nhà thầu Trung Quốc có cơ hội tham gia thì mới cho vay vốn.

Với kinh nghiệm 30 năm trong ngành điện, vị chuyên gia này phân tích, giả dụ hiệu suất lò hơi nhiệt điện trong hồ sơ mời thầu một dự án nhiệt điện than, nếu chỉ nâng lên 1% để đảm bảo chất lượng, thì ngay lập tức, hàng loạt các nhà thầu Trung Quốc sẽ bị rớt vì không đạt yêu cầu. Nhưng, chỉ cần hạ 1% hiệu suất lò hơi theo đề nghị của Ngân hàng Trung Quốc, giá thành máy móc, thiết bị đã giảm tới 20-30% . Vì yếu tố kinh tế đó, thông thường, cả bên đi vay và bên cho vay đều chấp nhận.

Một đặc điểm khác, theo vị chuyên gia này quan sát, trong hồ sơ mời thầu các dự án nhiệt điện, nếu chú trọng chất lượng, bao giờ cũng có câu,“yêu cầu thiết bị G7 hoặc chất lượng tương đương”. Nhưng với nhiều dự án nhiệt điện mà vay vốn Trung Quốc thì thường, những dòng chữ ghi điều kiện như vậy sẽ bị gạch bỏ. Đến khi dự án đi vào triển khai, chủ đầu tư Việt Nam sẽ vô cùng khó xử khi rơi vào tình huống phải chấp nhận các thiết bị kém chất lượng một cách miễn cưỡng.

Vị chuyên gia giám sát kỹ thuật tại một dự án nhiệt điện chia sẻ, căn cứ để giám sát chất lượng thiết bị nhập cho dự án chỉ có duy nhất 1 tờ giấy do nhà thầu cung cấp với tiêu đề “QUALITY CERTIFICATE”, gọi là phiếu chất lượng. Nhưng, hình thức trình bày và nội dung thông tin lại rất sơ sài.

Ở tờ phiếu chất lượng này, chỉ có tên thiết bị, nhà máy sản xuất, mã số đóng gói, mã số đặt hàng và dòng chữ đề thiết bị đã đạt chuẩn của nhà máy…, không có thông tin căn cứ theo một tiêu chuẩn quốc tế, quốc gia nào. Phần ký xác nhận phiếu, lúc là giám đốc nhà máy ở Trung Quốc, lúc là một cán bộ thay mặt giám đốc ký.

Vị kỹ sư tại dự án này nhận định, các phiếu này giống như phiếu xuất xưởng. Nó đơn giản tới mức chẳng cần in phiếu ở Trung Quốc mà có thể in ra ngay tại công trường Việt Nam như một loại văn bản thông thường.

Trong khi đó, hợp đồng ký với nhà thầu Trung Quốc thường chỉ ghi, thiết bị đến công trường phải có “phiếu chất lượng”, nhưng không mô tả rõ, phiếu chất lượng ấy như thế nào. Rốt cục, khi các tài liệu chứng nhận chất lượng chỉ vỏn vẹn có thế, chính những người gác cửa về chất lượng dự án trở nên tù mù, bó tay để thẩm định thiết bị, và chỉ khi nhà máy vận hành, phát sinh trục trặc mới biết thiết bị … kém cỡ nào.

Ban đầu, các giám sát viên có thể từ chối không nghiệm thu thiết bị kém chất lượng, nhưng rồi xảy ra tranh luận với nhà thầu và những áp lực từ nhiều phía… cộng với việc nhà máy lại vay vốn của chính Trung Quốc, các giám sát kỹ thuật của Việt Nam sẽ buộc “phải” nghiệm thu công trình dù chưa đạt yêu cầu. Bởi theo vị chuyên gia này, nếu không nghiệm thu thiết bị, vấn đề giải ngân vốn của dự án cũng gặp khó khăn.

Thực tế này cũng đã xảy ra với nhiệt điện Cao Ngạn cách đây 3 năm. Mặc dù nghiệm thu bàn giao cho chủ đầu tư rồi, nhưng nhà máy này đã phải hoạt động trong tình trạng vừa chạy, vừa sửa chữa, cải tiến tiếp.

Từng trả lời trên VEF, Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương cho rằng, phải tăng cường khâu giám sát thiết bị của Trung Quốc đến công trường, nhưng những câu chuyện trên đã cho thấy, khi chủ đầu tư lại là người đi vay của phía nước nhà thầu thì mọi sự thật khó. Việc nhận bàn giao nhà máy điện hay không đã biến thành câu chuyện trở đi mắc núi, trở lại mắc sông.
Theo VEF

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ “HÃNH DIỆN LÀ NGƯỜI VIỆT” ?


 
 
Mấy hổm rày, cư dân trên mạng cứ ồn ào tranh cãi về vấn đề “ hãnh diện là người Việt Nam” , người không hãnh diện, kẻ nói có, tranh cãi ỳ xèo , thậm chí chửi bới nhau. Vui thật!

Ai cũng có cái lý lẽ riêng của mình và đều có lý cả. Thật ra, hãnh diện là của riêng mỗi người, mình muốn hãnh thì cứ diện chứ chẳng thể nào bắt người khác phải hãnh cái diện của mình được …hehehe.

Phe hãnh thì trưng lịch sử 4000 năm dựng , giữ nước hào hùng của Ông Cha ra để diện. Quả thật, không ai có thể phủ nhận dân tộc mình là một dân tộc anh hùng, cả thế giới công nhận điều đó chứ không phải là mình tự phong như mấy cây cầu , tượng phật, con đường rồi cáp treo nhất  nhì Châu á hay Thế giới này nọ.

Phe không cảm thấy hãnh thì trưng ra một lô một lốc các yếu kém của xã hội, những hành động xấu của dân Việt ở nước ngoài, sự tuột  hậu của Đất nước so với thế giới ..VV , để phản biện lại cái sự hãnh của phe hãnh diện. Bỏ qua các ý kiến do tác nhân của tư tưởng chính trị mà dẫn tới miệt thị, dè bĩu dân mình thì phe không hãnh có phần cứng lý lẽ hơn.

Quả thật, chẳng ai có thể hãnh diện khi sau gần 40 năm hòa bình nền kinh tế Việt vẫn lẹt đẹt ở tốp cuối của thế giới. Đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ trong xã hội đang bị băng hoại làm giảm đi giá trị mềm của người Việt. Tham nhũng thì tràn lan, khoảng cách giàu nghèo đang bị nới rộng, an sinh xã hội kém, chỉ đáng để chúng ta suy ngẫm và biết mắc cỡ để tiến lên chứ không hề đáng để hãnh diện.

Cuộc sống của người dân dẫu có được cải thiện hàng ngày, nhưng với chừng ấy năm để được như vậy thì có đáng để gọi là thành tích hay không? Với một nữa thời gian như thế các nước xung quanh mình đã có thể trở thành những con rồng , con hổ rồi.

Dân tộc Việt có một quá khứ hào hùng thật, chưng chẳng ai lại đi hãnh diện với quá khứ. Chúng ta chỉ nên tự hào về những gì Ông Cha mình làm được và lấy đó làm động lực để chúng ta bước tiếp về tương lai mà thôi.

Chúng ta từng hãnh diện đất nước mình “Rừng vàng , Biển bạc”. Để rồi bây giờ hàng ngày đang đào bán tài nguyên thô với giá rẽ mạt để lấy tiền đó sao ?

Chúng ta từng hãnh diện là dân mình thông minh, cần cù. Để bây giờ hàng vạn Đồng bào mình đang nai lưng làm thuê, cuốc mướn những công việc phổ thông nơi xứ người đó sao?

Chúng ta từng tự hào phụ nữ Việt xinh đẹp, trung hậu, đảm đang. Để bây giờ, đâu đó trên đất Việt , những thiếu nữ Việt đang sắp hàng cởi đồ, cho bọn dê xồm nước nước ngoài ngắm nghía, sờ mó chọn làm vợ đó sao?


Ai hãnh thì cứ việc diện. Riêng mình , mình tự hào là người Việt , nhưng không hề hãnh diện là người Việt. Mình đang học mắc cỡ, bởi vì mình nghĩ có biết mắc cỡ thì trong tương lai gần mình mới có thể HÃNH DIỆN LÀ NGƯỜI VIỆT được.
                                                                                                                THÁI BÌNH

Thế này mà gọi là pháp luật ư?

Nguyễn Thông




Hoàn toàn tôi chả muốn thả chữ nào về vụ án xử mấy cô gái bán dâm và môi giới bán dâm bữa qua. Chẳng qua tôi không muốn dính vào trò xử đó. Nhưng báo chí thì cứ lồng lộn lên, báo in báo mạng, đài phát thanh, truyền hình, cả chính thống lẫn không chính thống. Vậy mà cuối cùng cầm lòng chẳng đậu. Nhưng dứt khoát không nói chi về "tội" của mấy cô gái đó, chỉ nói chuyện tòa, chuyện báo.



Xứ ta hầu như ngày nào cũng mở tòa, ngày nào cũng kết án. Tội phạm nhiều, luật hình lắm nên tòa bận rộn. Tuyên đúng người đúng tội là đương nhiên, nhưng oan sai cũng chả thiếu. Cái cần xử kín thì hở toang toác, vụ cần công khai thì lại dấm da dấm dúi. Nhìn vào chỗ thần công lý ngự trị nhiều khi thấy cũng nực cười.



Giở lại vụ xử mấy cô gái trên. Tất nhiên các cô ấy phạm luật, mà đã vi phạm thì phải chịu sự phán xét của pháp luật, nên tôi không có ý bênh họ (phải nói trước ra như thế). Xứ ta cấm hành nghề mua bán dâm. VN chứ không phải Hà Lan hay nước Đức. Không có phố đèn đỏ, chỉ luật đỏ thôi, vượt lằn ranh thì ráng chịu. Nhưng...



Đối với người đàn bà, hầu hết khi chọn sự bán dâm để sống tức là đã chả còn cách nào khác phù hợp với chính mình. Chấp nhận sự khinh rẻ của cộng đồng, xã hội. Vì tham tiền, muốn hưởng thụ, lười lao động, ham muốn thân xác, bị đẩy vào bước đường cùng... thôi thì đủ thứ lý do. Muốn lên án họ thế nào cũng được. Những cô bán dâm nhưng vẫn cố ý giấu diếm tức là trong họ vẫn còn chút mong muốn quay trở lại cuộc sống bình thường. Vậy mà tòa nỡ lòng nào, báo chí truyền thông nỡ lòng nào phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật. Ừ thì để cảnh báo, để làm gương, để rút ra bài học, để kẻ khác thấy mà chừa. Nhưng liệu có hồ hởi hăng hái tàn nhẫn thái quá chăng khi chưa xử đã công bố ngày này ngày nọ lôi ra tòa, khi xử thì mở cửa không khác gì tháo khoán cho người đến coi mặt bọn "đĩ" (dư luận kháo như thế), mời đủ cơ quan báo chí truyền thông, muốn quay phim chụp ảnh phỏng vấn cứ thoải mái. Phòng xử chật ních. Nhà báo đông hơn kiến cỏ. Có cảm giác nếu xử trùm phát xít Hitler cũng không đến nỗi thế. Mấy "cô gái sông Hương" ấy co ro nhưng con giun con dế giữa tòa, trong vòng vây trùng điệp của những người có nhân cách hơn họ. Dù tòa có tuyên án nhẹ, án treo, thậm chí trả tự do ngay sau đó thì cũng đã phăng một nhát dao tàn nhẫn chặt nốt đường về của họ. Phụ giúp đắc lực cho tòa là những anh chị nhà báo hăng hái kia, những người từng đọc leo lẻo truyện Kiều "chữ trinh còn một chút này/Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan". Lôi người đàn bà đang mắc nợ nhân phẩm ra trước chợ người, liệu tòa có chút băn khoăn nào không nhỉ? Dí cái ống kính máy ảnh vào tận mặt người ta trong giới hạn cuối cùng của lương tâm, thử hỏi các nhà báo có cảm thấy đắng chát lòng không nhỉ?



Giá như xử "mấy tên phản động" Hà Vũ, Điếu Cày, tòa lôi ra công khai thế này, cho báo chí tung hoành tác nghiệp thế này để dân tình thấu hiểu "tội lỗi của chúng" có phải hợp lý hợp tình không. Và ngược lại, với mấy cô gái ấy, lôi toẹt vào cái phòng kín, cấm tiệt bọn báo chí, ngắt điện tivi, thì dù án tuyên thế nào chăng nữa cũng vẫn có chút tình người.



28.6.2013

Thứ Năm, 27 tháng 6, 2013

Rước giặc về nhà

Nhiều năm nay, việc hàng lậu hàng giả hàng độc hại Trung Quốc (TQ) tràn ngập nước ta đã gần như thành chuyện thường ngày. Lộng hành đến mức không còn chỗ nào, lĩnh vực nào vắng cái bóng ma của nó. Có người ví những thứ hàng ấy như cái đầu giặc Phạm Nhan, chém đầu này thì ngay lập tức mọc ra đầu khác. Kiểm soát ngăn chặn hàng lậu, hàng giả, hàng độc hại TQ vất vả không khác gì đánh giặc.



Chỉ trong hơn tháng qua, các nhà sản xuất trong nước và cơ quan chức năng đã phải dàn quân ngăn chặn quyết liệt hai thứ hàng từ TQ tràn sang: cá tầm và khoai tây. Nuôi cá tầm là ngành sản xuất mới mẻ ở nước ta, đang làm quen và dần chinh phục thị trường, tạo dựng hình ảnh, thương hiệu cá tầm VN, thì bất chợt cá TQ ào ạt tràn qua biên giới, vào tới tận cả các tỉnh phía nam. Cá rẻ, chất lượng kém của TQ đánh bật cá tầm VN ra khỏi nhà hàng, chợ búa, siêu thị, đồng nghĩa với việc phá hoại kinh tế, giết chết ngành nuôi cá tầm trong nước đang đà phát triển. Tương tự như vậy, củ khoai tây VN xưa nay đâu có thiếu, nhà nông xứ ta thừa khả năng cung cấp cho thị trường nội địa. Khoai tây miền Bắc, khoai tây Đà Lạt không chỉ ngon, vừa miệng mà điều quan trọng là đảm bảo chất lượng, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm. Việc cơ quan chức năng vừa qua kiên quyết xử lý tiêu hủy lô hàng mấy chục tấn khoai tây TQ nhập lậu không chỉ vì nó sẽ phá rối thị trường mà nghiêm trọng hơn, nó đã bị nhiễm độc, nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng.

Suốt bao năm, mối nguy độc hại từ hàng TQ luôn chực chờ đe dọa. Chẳng mấy ai quên chính báo chí TQ đã phanh phui những vụ động trời như sữa bột Sanlu (tỉnh Hà Bắc) có hàm lượng melamine cao làm tử vong hàng loạt trẻ em dạo năm 2008 hoặc vụ trứng bắc thảo ở tỉnh Giang Tây chứa độc tố sulfat đồng mới đây. Nói chi xa, hàng TQ nhập vào VN tiềm ẩn chất độc do khâu sản xuất hoặc bảo quản như trái cây (táo, lê…), đồ chơi trẻ em, đồ sứ, hàng nhựa, quần áo, tỏi, gừng… khiến người tiêu dùng ngày càng e ngại, xa lánh. Vậy cớ chi chúng vẫn tràn ngập thị trường nước ta?



Không thể loại trừ chuyện hàng TQ ào sang VN theo một chủ trương nào đó từ TQ nhưng điều dễ thấy nhất là chính không ít doanh nghiệp, thương nhân xứ ta sang tận đất họ lôi của độc về. Nói nôm na là “quân ta đánh quân mình”. Chẳng hạn nhiều doanh nghiệp nuôi cá tầm trong nước đã tố một công ty thủy điện ở tỉnh Lai Châu nhập lậu cá tầm TQ về nuôi và bán phá giá thị trường, cá không qua kiểm dịch, có nguy cơ lây lan dịch bệnh thủy sản, không đảm bảo an toàn thực phẩm, ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng. Chuyện khoai tây độc hại cũng tương tự, người ta còn cố ý nhập hẳn cả máy móc về để tân trang khoai TQ thành khoai Đà Lạt, biến củ khoai lậu, độc hại thành khoai VN. Chuyện khoai TQ chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt 16 lần ngưỡng cho phép họ chả thèm quan tâm, bởi đã có người tiêu dùng gánh chịu.



Cứ nghĩ đến đám chất độc đang hoành hành giết dần giết mòn lương dân, đe dọa giống nòi xứ Việt này, tôi bất chợt hình dung ra sự lo lắng trong bài thơ được học hồi phổ thông, bài Á tế á ca (hay còn gọi là Đề tỉnh quốc dân ca, tương truyền của cụ Phan Bội Châu):



Nỗi diệt chủng vừa thương vừa sợ

Nòi giống ta biết có còn không?



Thật khó giả nhời.


24.6.2013

Nguyễn Thông

Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử (phần 2)

Bên cạnh những chính thể có tính cách đại diện cho toàn thể cộng đồng Việt Nam thì cũng có nhiều thực thể chính trị được thừa nhận hoặc vô thừa nhận ra đời tùy bối cảnh lịch sử. Những thực thể này hầu hết không tồn tại lâu nhưng ít nhiều đóng góp cho sự phát triển của tiến trình lịch sử Việt Nam, và trước nhất chúng ta thấy rằng, việc đánh giá cơ cấu chính trị – xã hội Việt Nam phải dựa trên cái nhìn đa diện chứ không thể đứng ở hệ quan điểm này bài xích hệ quan điểm nọ.
Đèo Nàng Tơi (1914 – 2008) là vị chúa Thái cuối cùng, sau khi Khu tự trị Tây Bắc giải thể (1975) thì bà di cư sang Pháp. Dòng họ Đèo thế tập không kén chọn nam hay nữ và hiện nay hầu hết định cư tại Pháp. Bức ảnh chụp tại Hà Nội năm 1952. Thời gian tới, TTXVA sẽ có bài viết về dòng họ quyền uy này.
1. Vương quốc Sedang (1888 – 1890)
Từ thế kỷ XIX trở về trước, Tây Nguyên còn là miền đất hoang sơ, nơi cư trú của nhiều bộ lạc gốc Mã Lai – Đa Đảo và chưa bao giờ đạt tới trình độ văn minh. Từ năm 1858 khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha nổ súng tấn công bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) thì các nhà thám hiểm hoặc truyền giáo Pháp mới bắt đầu tìm cách chinh phục Tây Nguyên, nhưng hiệu quả rất ít bởi sự cách trở về ngôn ngữ cũng như phong tục tập quán. Đến năm 1888, một cựu nhân viên ngân hàng người Corse tên là Marie-Charles David de Mayréna (1842 – 1890) đã mua chuộc một số tù trưởng để thành lập tại vùng đất ngày nay là Dakto một quốc gia có tên là Vương quốc Sedang (Royaume des Sedangs). Đây thực chất là một liên minh các bộ lạc lớn ở khu vực ngày nay là Kontum, Mayréna đặt cho kinh đô vương quốc là Marie Peleï (tiếng Mã Lai : Làng Marie) – nay là buôn Kongu (xã Ngọc Wang, huyện Đắk Hà, tỉnh Kon Tum). Cư dân chủ yếu của Vương quốc Sedang là người Bahnar và Sedang (từ Sedang là đọc trại của từ Cà răng). Bản thân Mayréna tự xưng là vua Marie Đệ Nhất, ấn định Hiến pháp vương quốc, đồng thời thiết lập hệ thống biểu trưng (quốc kỳ và quốc huy, hiệu kỳ và huy hiệu hoàng gia), thậm chí đã kịp in tiền và tem (được sản xuất tại Pháp). Tuy nhiên, mục đích thực sự của Mayréna khi thiết lập vương quốc chẳng qua để ngã giá với các nước thực dân Tây Âu (vốn đang khát thuộc địa và thị trường tiêu thụ hàng hóa) ; Mayréna trực tiếp đi giao thiệp với đại diện các chính phủ Anh, Pháp nhưng việc thương lượng đổ bể. Sau đó, ông sang Bỉ tìm mua vũ khí (với giao hẹn chia sẻ nguồn tài nguyên thiên nhiên) nhằm đoạt lại quyền kiểm soát vương quốc nhưng bị hải quân Pháp chặn bắt tại Singapore (với lý do buôn lậu). Do không tìm được đường trở lại Tây Nguyên, Mayréna bỏ sang Malaysia, kết hôn và định cư trên đảo Tioman cho đến khi mất (11 tháng 11 năm 1890). Vương quốc Sedang chấm dứt sự tồn tại và những vùng đất của nó nhập vào Liên bang Đông Dương, dù sao việc ra đời quốc gia này đã mở đường cho sự truyền bá Công giáo, Tin Lành giáo vào cộng đồng Tây Nguyên vốn còn ở tình trạng nguyên thủy.
Quốc kỳ Vương quốc Sedang hình vuông, nền lam với chữ thập trắng ở chính giữa, bên trong chữ thập còn có một ngôi sao năm cánh màu đỏ.
Mã màu : #0055A4, #FFFFFF, #EF4135
2. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ(1946 – 1948)
Trước khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh (14 tháng 8 năm 1945), khu vực ngày nay là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ được gọi chung là Nam Kỳ, hưởng quy chế lãnh thổ tự trị trong khối Liên bang Đông Dương (tương tự Bắc Kỳ và Quảng Châu Loan). Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân đội Pháp trên danh nghĩa Đồng Minh quay trở lại tiếp quản Sài Gòn (tuân thủ Hiệp ước Yalta) rồi dùng vũ lực trấn áp toàn miền. Các tổ chức chính trị (Đông Dương Tự trị Đảng, Việt Nam Tân Dân chủ Đảng, Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng…) và trí thức Nam Kỳ đồng loạt lên tiếng yêu cầu chính phủ Cộng hòa Pháp trao quyền tự trị cho xứ này – điều đó cũng có nghĩa là, người Nam Kỳ bấy giờ không có ý muốn gia nhập chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 2 năm 1946, Ủy viên Cộng hòa Jean Marie Arsène Cédile quyết định thành lập Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) với 12 ủy viên (4 người Pháp, 8 người Việt Nam). Đến ngày 31 tháng 5 cùng năm thì Hội đồng Tư vấn Nam Kỳ đổi tên thành Hội đồng Nam Kỳ (Conseil de Cochinchine) với 42 ủy viên. Quan điểm của Hội đồng là liên đới mọi cá nhân hoặc tổ chức đối lập với Việt Minh thành một khối. Ngày 27 tháng 5 năm 1946, Cao ủy Đông Dương Georges Thierry d’Argenlieu đơn phương tán thành việc thiết lập một chính thể lấy tên là Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ (République autonome de Cochinchine), thủ phủ đặt tại Sài Gòn. Ngày 1 tháng 6, một cuộc meeting nhằm ra tuyên cáo của tân chính phủ đã diễn ra tại khu vực Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ hưởng quy chế ngang hàng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – tức là tự trị trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương thuộc Pháp.
Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ là một chính thể đại nghị chế, đứng đầu trên danh nghĩa là Cao ủy Đông Dương, quyền điều hành thuộc về Thủ tướng và Nội các. Chính thể này thành lập giữa lúc tình thế chính trị Nam Kỳ diễn biến phức tạp, các phe phái đua nhau cát cứ và trong nội bộ chính phủ thì có sự chia rẽ. Chỉ trong 3 năm (1946-1947-1948) đã có 3 Thủ tướng thay phiên nhau chấp chính : Nguyễn Văn Thinh (tự sát ngày 10 tháng 11 năm 1946), Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân. Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ thực chất là một chính thể thành lập vội vã, kết cấu chính quyền chưa hoàn chỉnh và cũng không nhận được sự tán thành của đông đảo quần chúng. Sau Thỏa ước Élysées (được ký kết bởi Tổng thống Pháp Vincent Auriol và cựu hoàng Bảo Đại) và một cuộc biểu quyết tại Quốc hội Nam Kỳ, ngày 2 tháng 6 năm 1948, Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ giải thể, lãnh thổ của nó sáp nhập trở lại với Bắc Kỳ và Trung Kỳ để sang năm 1949 thì chính thể Quốc gia Việt Nam ra đời.
Quốc kỳ Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ là lá cờ vàng ba sọc lam, tỉ lệ 2/3 với nền vàng và năm sọc ngang – hai sọc trắng chen giữa ba sọc lam. Ba sọc lam tượng trưng cho ba dòng sông lớn chảy tràn trên đất Nam Kỳ : Đồng Nai, Tiền Giang, Hậu Giang. Hiện nay, nguồn tư liệu về lá cờ này ở không nhất quán : Có tài liệu nói rằng, giữa ba sọc lam là hai sọc trắng – nhưng cũng có tài liệu khẳng định giữa ba sọc lam là hai sọc vàng. Chi biết rằng, đương thời báo giới giễu nhại nó là “cờ sốt rét”.
Mã màu : #FFFF00, #0055A4, #FFFFFF
Hiệu kỳ xứ Nam Kỳ thuộc Pháp (1867 – 1945) :
Mã màu : #FFD700, #000000
3. Sip Song Chau Tai (1948 – 1955)
Từ xưa, vùng Tây Bắc là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc thiểu số di cư từ cao nguyên Vân Quý (Trung Quốc), nhưng mạnh nhất và giữ vai trò thống trị lâu nhất là người Thái (hình thành trong khoảng thế kỷ VII – XIII). Suốt từ thế kỷ XIII đến nửa đầu XIX, các chúa Thái vừa lo bình định trong ngoài vừa kiến tạo cơ sở vật chất cho mình, nguồn lợi chủ yếu có được là do buôn bán thuốc phiện với các khu vực lân cận. Do cương vực là nơi giao thoa của nhiều quốc gia, các thủ lĩnh người Thái đã củng cố thế lực bằng chính sách ngoại giao rất khôn khéo (lúc nhu lúc cương, khi liên kết với Ai Lao chống Đại Việt, khi kết giao với Đại Việt chống Trung Hoa…) và trong nội bộ dân tộc Thái cũng tồn tại những luật lệ không quá hà khắc, tỏ ra công bằng giữa người nam và người nữ. Từ năm 1431 nổi lên thế lực của dòng họ Đèo (thủy tổ là Đèo Cát Hãn) thuộc nhóm Thái Trắng (Táy Khao) – cũng từ triều Lê sơ trở đi, các thủ lĩnh Thái được gọi là phìa tạo (p’tao), được quyền thế tập, có lãnh địa và hệ thống chức sắc riêng, những vẫn phải phụng cống xưng thần với triều đình Đại Việt. Đến khoảng năm 1841, Đế quốc Xiêm La bình định xong các tiểu quốc Lào và trở thành nguy cơ đối với quyền lực của các chúa Thái, dòng họ Đèo buộc phải khẩn cầu sự trợ lực của triều Nguyễn. Đáp lại, Hoàng đế Minh Mạng kết hợp ba châu Ninh Biên, Tuần Giáo, Lai Châu thành phủ Điện Biên và cử quân đội người Kinh lên đó đồn trú.
Sau khi Đế quốc thực dân Pháp xâm nhập và bình định xong Bắc Kỳ, vào năm 1890, Thống đốc Pháp tại Luang Prabang là Auguste Jean-Marie Pavie (1847 – 1925) đã kiến nghị với chính phủ Cộng hòa Pháp công nhận chúa Đèo Văn Trị là thủ lĩnh hợp pháp của vùng Tây Bắc – từ lúc này được gọi là Sip Song Chau Tai (สิบสองเจ้าไต, Mười hai xứ Thái). Triều Nguyễn cũng sắc phong Đèo Văn Trị chức tri châu, được quyền thế tập để cai quản đạo Lai Châu (trước đó gọi là phủ Điện Biên). Từ năm 1947, cuộc chiến tranh Đông Dương bùng nổ và diễn biến phức tạp, với mục đích cô lập lực lượng Việt Minh, chính phủ Pháp quyết định tách Sip Song Chau Tai khỏi Bắc Kỳ và ngày 1 tháng 1 năm 1947, Liên bang Thái Tự trị (Fédération Taï) được thành lập với thủ phủ đặt tại nơi ngày nay là thị xã Mường Lay. Liên bang Thái là lãnh thổ ủy trị của Liên hiệp Pháp, bao gồm 16 châu hợp thành. Điều thú vị là, kết cấu chính quyền Liên bang Thái đảm bảo tam quyền phân lập rất rõ : Đứng đầu xứ là lãnh chúa xuất thân từ dòng họ Đèo, cơ quan lập pháp là hội đồng đại biểu các châu với nhiệm kỳ 4 năm, cơ quan hành pháp có chủ tịch do các đại biểu tri châu bầu lên với 2/3 số phiếu và nhiệm kỳ 5 năm, tư pháp thì chiểu theo tập tục cổ truyền. Ngày 1 tháng 7 năm 1948, Liên bang Thái Tự trị đổi tên thành Khu tự trị Thái và sang năm 1949 thì trở thành một phần của Quốc gia Việt Nam. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1955, Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Hồ Chí Minh) đã ra Sắc lệnh số 230/SL thành lập Khu tự trị Thái – Mèo với 17 châu trên cơ sở Khu tự trị Thái và một số vùng trực thuộc Liên khu Việt Bắc. Năm 1962, Khu tự trị Thái – Mèo đổi tên thành Khu tự trị Tây Bắc và tồn tại đến ngày 27 tháng 12 năm 1975 thì giải thể, quyền lực của các chúa Thái cũng chấm dứt.
Cờ hiệu của Sip Song Chau Tai được ấn định vào ngày 4 tháng 3 năm 1948, tỉ lệ 2/3 với sọc trắng chen giữa hai sọc lam, chính giữa sọc trắng có thêm ngôi sao đỏ 16 cánh (ban đầu là 12 cánh). Kết cấu lá cờ dựa trên quốc kỳ Cộng hòa Pháp, màu sắc lấy từ trang phục lễ hội của phụ nữ Thái Đen (Táy Đăm), ngôi sao 16 cánh tượng trưng cho 16 châu liên minh. Trong khoảng từ 1946 đến 1949, lá cờ này được sử dụng làm chiến kỳ của binh sĩ người Thái trong quân đội Pháp. Năm 1954, khi quân đội Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ thì lá cờ này chấm dứt vai trò biểu tượng.
Mã màu : #0055A4, #FFFFFF, #EF4135
4. Cộng hòa Tây Nguyên và Champa (1964 – 1965)
Sau khi chính thể Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam sụp đổ (2 tháng 11 năm 1963), nội trị Việt Nam Cộng hòa trở nên biến động khôn lường. Chịu trách nhiệm lãnh đạo quốc gia lúc này là Hội đồng Quân nhân Cách mạng, nhưng do thiếu kinh nghiệm chính trị cũng như cách giải quyết các khúc mắc xã hội nặng nề tính cách nhà binh, những mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo được dịp bùng phát. Bên cạnh đó là sự dính líu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong các hoạt động khủng bố, chia rẽ. Ngày 20 tháng 9 năm 1964, tại Phnompenh, dưới sự chủ tọa của quốc vương Campuchia Sihanouk, Mặt trận Thống nhất Đấu tranh của các Sắc tộc bị Áp bức (Front Uni de Lutte des Races Opprimées, FULRO) được thành lập, bao gồm :
- Mặt trận Giải phóng Champa (Front de Libération du Champa, FLC), còn gọi là FULRO Chăm, do Lès Kosem lãnh đạo.
- Mặt trận Giải phóng Campuchia Krom (Front de Libération du Kampuchea Krom, FLKK), còn gọi là FULRO Khmer, do Chau Dera làm đại diện.
- Mặt trận Giải phóng Cao Nguyên (Front de Libération des Hauts Plateaux, FLHP), còn gọi là FULRO Thượng, do Y Bham Enuol chỉ huy.
Mục tiêu của tổ chức này là giành quyền tự quyết cho các sắc tộc Thượng, Chăm, Khmer bằng bạo động vũ trang. Bởi vậy, vào ngày 29 tháng 7 năm 1964, một toán 200 tay súng FULRO từ Campuchia về chiếm giữ Buôn Briêng (Darlac) và kết nạp thêm 181 thành viên. Ngày 15 tháng 10 năm 1964, đại hội các sắc tộc Thượng được triệu tập tại Pleiku nhằm đề ra chính sách hỗ trợ cho đời sống người Thượng. Đến ngày 17 tháng 10 cùng năm, một chính quyền có tên là Cộng hòa Tây Nguyên và Champa (République des Highlands et Champa) được thành lập, thủ phủ đặt tại Pleiku. Chính quyền này được lập ra với sự chấp thuận của chính phủ Hoa Kỳ, tự coi là đại diện chính trị cho hai sắc tộc Thượng và Chăm song không có đường biên cũng như hệ thống cơ quan hành chính, thực lực quân sự cũng không đảm bảo. Sang năm 1965, Hội đồng Quân nhân Cách mạng cử đại diện là Trung tướng Nguyễn Khánh đàm phán với các lãnh tụ FULRO. Ngày 2 tháng 8 năm 1965, một tuyên cáo chung về hợp tác Kinh – Thượng được công bố, nội dung căn bản là :
- Kinh Thượng bình đẳng và đoàn kết thật sự
- Tôn trọng phong tục, tập quán của đồng bào Thượng
- Đặc biệt nâng đỡ đồng bào Thượng theo kịp đà tiến bộ của Dân tộc
Tuyên cáo này cũng có thể xem như sự cáo chung của một chính quyền không có thực lực. Trong hai năm tồn tại, Cộng hòa Tây Nguyên và Champa sử dụng lá cờ như sau :
Mã màu : #0055A4, #EF4135, #009246, #FFFFFF
Nửa bên trái là ba sọc lam – đỏ – lục trích từ hiệu kỳ FULRO, nửa bên phải là nền trắng với biểu tượng Hồi giáo (trăng lưỡi liềm) ở chính giữa - màu đỏ và màu trắng phỏng theo trang phục truyền thống của dân tộc Chăm. Tổng thể lá cờ toát lên ý chí đoàn kết vì mục tiêu chung của các sắc tộc Thượng và Chăm.
5. Cộng hòa Champa (1965)
Ngay từ thời điểm thành lập, nội bộ FULRO luôn dao động giữa chủ hòa và chủ chiến. Y Bham Enuol chủ trương giành quyền tự trị cho Tây Nguyên bằng giải pháp thương lượng, đồng thời quan tâm nâng cao chất lượng đời sống của các sắc tộc Thượng ; Y Dhon Adrong chủ trương giành độc lập cho ‘Tây Nguyên bằng bạo động vũ trang. Sau khi tuyên cáo về hợp tác Kinh – Thượng được công bố, chính quyền Cộng hòa Tây Nguyên và Champa cũng giải thể, nội bộ FULRO mâu thuẫn dữ dội vì phe chủ chiến không chấp nhận giải pháp này. Khoảng tháng 7 năm 1965, Mặt trận Giải phóng Champa đơn phương thành lập tại Phan Rang (Ninh Thuận) một chính quyền có tên là Cộng hòa Champa (République du Champa), Lès Kosem (bấy giờ mang cấp hàm Thiếu tá Nhảy dù trong Quân đội Hoàng gia Campuchia) tự xưng là Tổng thống và tuyên bố phục quốc Champa. Tuy nhiên, chính quyền này không được công nhận và cũng không có thực lực nên chỉ tồn tại một thời gian rất ngắn.
Quốc kỳ Cộng hòa Champa là hiệu kỳ của Mặt trận Giải phóng Champa (tỉ lệ 2/3).
Mã màu : #0055A4, #FFFFFF, #EF4135
6. Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (1969 – 1976)
Biến cố Tết Mậu Thân (1968) đã khiến Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trở thành cái tên được công luận quốc tế quan tâm. Để tận dụng sức hút đối với phong trào phản chiến thế giới, Đảng Lao động Việt Nam chỉ thị Trung ương Cục miền Nam tổ chức Đại hội Đại biểu Quốc dân miền Nam Việt Nam tại chiến khu Tây Ninh, tham dự Đại hội là các cá nhân và tổ chức Việt Nam Cộng hòa có cảm tình với Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tại Đại hội, từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 6 năm 1969, hai tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt NamLiên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã bầu ra một ban lãnh đạo chung – được gọi là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam – đứng đầu là kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (Chủ tịch lâm thời), trực tiếp cầm quyền là Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam (vốn là phân bộ phía Nam của Đảng Lao động). Tuy mặc định toàn bộ vùng đất từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau là lãnh thổ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, nhưng thực tế lúc này thuộc quyền quản lý của chính thể Đệ nhị Cộng hòa, thủ phủ của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là chiến khu Tây Ninh. Đến 30 tháng 4 năm 1975 khi Việt Nam Cộng hòa cáo chung thì chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam dời về Sài Gòn. Từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất họp khóa đầu tiên đã tuyên bố xóa bỏ khu DMZ vĩ tuyến 17 và đặt quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng nghĩa Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) giải thể, Sài Gòn cũng được đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù có sự tổ chức hành chính rất bài bản, song chính phủ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam chịu sự chi phối của Trung ương Đảng Lao động trong mọi quyết sách chính trị – ngoại giao – quân sự và thực tế cũng tự coi là chính quyền ủy trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cho nên Cộng hòa Miền Nam Việt Nam không đại diện cho bất cứ cộng đồng nào mà chỉ nên xem là giải pháp chính trị của Đảng Lao động Việt Nam trong bối cảnh tương tranh Nam-Bắc.
Quốc kỳ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam là hiệu kỳ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, tỉ lệ 2/3 với nửa trên màu đỏ và nửa dưới màu xanh, chính giữa là ngôi sao vàng năm cánh. Lá cờ này sao phỏng từ quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nửa đỏ thể hiện miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, nửa xanh thể hiện miền Nam đang còn chiến tranh và chưa hợp nhất, ngôi sao vàng thể hiện tinh thần đoàn kết của 5 giai cấp chính yếu trong xã hội Việt Nam.
Mã màu : #CC0000, #FFFF00, #0099FF
MỘT SỐ HÌNH ẢNH
Lá cờ xứ Nam Kỳ (hình in trên bưu thiếp), sử dụng trong các lĩnh vực quân sự và thương mại.
Lá cờ xứ Nam Kỳ – hình in trên bưu thiếp chào mừng Hội chợ triển lãm quốc tế Paris (1900).
Lá cờ xứ Nam Kỳ (hình in trên vỏ hộp thuốc lá).
Lá cờ ba sọc xanh trên huy hiệu Vệ binh Cộng hòa Nam Kỳ (Garde Républicaine Cochinchinoise).
Lá cờ Sip Song Chau Tai trên huy hiệu.
Lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam – từ 1969 trở thành quốc kỳ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam do một tiểu đội trinh sát Hoa Kỳ tóm được vào ngày 6 tháng 2 năm 1968.


Xem tin nguồn: http://ttxva.org/quoc-ky-viet-nam-2/#ixzz2XTHg8j10
Follow us: thongtanxavanganh on Facebook

Quốc kỳ Việt Nam : Những cung đường lịch sử (phần 1)

Sự ra đời và lưu hành của những lá quốc kỳ Việt Nam đã có nhiều bài viết cũng như nhiều cách lập luận, tuy nhiên, bức tranh tổng thể về lịch sử quốc kỳ Việt Nam thì chưa bao giờ có. Cần lưu ý rằng, lịch sử quốc kỳ là gồm thâu tất cả những lá cờ được sử dụng làm biểu trưng cho quốc gia – bất kể thể chế chính trị nào. Lịch sử là cái đã – đang – sẽ diễn ra chứ không diễn ra theo-ý-muốn-của-ý-thức-hệ, cho nên, bài viết này cố gắng lược thuật lại dòng sử về quốc kỳ Việt Nam bằng cái nhìn khách quan, không nghiêng lệch theo ý niệm chính trị. Rất có thể, đây đó còn thừa hoặc thiếu, mong được bạn đọc góp ý và phản biện !

Bản đồ và quốc kỳ Việt Nam đương đại xuất hiện trong clip Việt Nam – hình hài một chữ S.

Trước khi tiếp xúc với nền văn minh Âu châu (thường gọi là phương Tây), các nước Á Đông nói chung – Việt Nam nói riêng – không có khái niệm về lá cờ biểu trưng cho quốc gia, hoặc nếu có thì không được công nhận chính thức. Những lá cờ thường được sử dụng vào mục đích văn hóa (hội hè, tang gia bối rối…) hoặc quân sự, ngoài ra cũng có cờ biểu trưng cho hoàng gia – mà trực tiếp là biểu hiện sự cao quý của vua chúa – nhưng bị hạn chế sử dụng trong dân gian. Thí dụ, quốc kỳ các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Xiêm La (sau đổi là Thái Lan)… ban đầu được sử dụng làm chiến kỳ (lá cờ biểu trưng cho quân đội), lá quốc kỳ Đại Hàn Đế quốc (quốc hiệu cuối cùng của Triều Tiên trước khi bị Nhật Bản đô hộ) vốn dĩ là cờ hiệu của phái đoàn ngoại giao. Tại Việt Nam, mãi đến đầu thế kỷ XX vẫn chưa có quốc kỳ, cờ biểu trưng cao nhất chỉ là cờ hoàng gia (hoàng kỳ).

1. Liên bang Đông Dương (1887 – 1953)
Được thành lập vào ngày 17 tháng 10 năm 1887 nhưng mãi đến năm 1923, Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise) mới có quốc kỳ chính thức (trước đó chỉ sử dụng quốc kỳ Cộng hòa Pháp), lá cờ này được sử dụng đến khoảng năm 1945 – khi Đế quốc thực dân Pháp bị phát xít Nhật gạt khỏi Đông Dương. Đây là lá quốc kỳ đầu tiên xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam ; tỉ lệ 2/3 với nền vàng và quốc kỳ Pháp ở góc trái phía trên cùng – cờ tam tài thể hiện Nhà nước bảo hộ và màu vàng thể hiện giống người da vàng. Liên bang Đông Dương thực tế không phải quốc gia mà chỉ là liên minh các tiểu vương quốc và lãnh thổ ủy trị của Đế quốc thực dân Pháp tại Đông Á, cho nên có khi được gọi là xứ Đông Pháp. Lãnh thổ tương ứng Việt Nam ngày nay được chia làm ba kỳ : Bắc Kỳ (lãnh thổ ủy trị), Trung Kỳ (Đại Nam Đế quốc), Nam Kỳ (lãnh thổ ủy trị).
Mã màu : #0055A4, #FFFFFF, #EF4135, #FFFF00

2. Việt Nam Đế quốc (1945)
Đầu năm 1945, chiến sự Thái Bình Dương biến chuyển bất lợi cho quân đội Nhật Bản. Với ý muốn xây dựng khu vực Đông Á thành hậu phương vững chắc của mình, Đế quốc Nhật Bản đột ngột thay đổi chính sách : từ bỏ minh ước “cùng nhau cai trị” để tiến tới thâu tóm hoàn toàn Đông Dương. Ngày mồng 9 tháng 3 cùng năm, hoàng quân Nhật Bản đảo chính thành công, gạt Đế quốc thực dân Pháp (chính phủ Vichy) khỏi Đông Dương và chỉ hai ngày sau (11 tháng 3) thì trao quyền độc lập về danh nghĩa cho Việt Nam. Bản chiếu chỉ đề ngày 27 tháng Giêng Âm lịch (tức ngày 11 tháng 3 Dương lịch) do Hoàng đế Bảo Đại đọc tại điện Kiến Trung, có chữ ký của 6 vị Thượng thư triều Nguyễn và sự chứng kiến của đại diện Nhật hoàng (Đại sứ, Tổng lãnh sự, Lãnh sự), có ý nghĩa tiên khởi cho nền độc lập của nước Việt Nam hiện đại. Quốc hiệu Việt Nam lúc đó là Việt Nam Đế quốc, thủ đô đặt tại Huế. Từ ngày 11 tháng 3 đến ngày 17 tháng 4, quốc kỳ nước Việt Nam (bấy giờ chỉ bao gồm Bắc Kỳ và Trung Kỳ) là cờ long tinh. Lá cờ long tinh (龍星帝旗) vốn là cờ hiệu của hoàng gia Nguyễn, sử dụng từ 1920 bởi các Hoàng đế Khải Định, Bảo Đại. Tỉ lệ cờ 1/2 với ba dải ngang : dải đỏ chen giữa hai dải vàng, chiều rộng nền đỏ chiếm 1/2 chiều rộng cờ.
Mã màu : #FFFF00, #EF4135

Ngày 17 tháng 4, được sự ủy nhiệm của Hoàng đế Bảo Đại, chính khách Trần Trọng Kim (Tổng bí thư Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng) đứng ra lập tân chính phủ và được bầu làm Nội các Tổng trưởng (Thủ tướng). Quốc hiệu giữ nguyên, nhưng quốc kỳ thay đổi và thủ đô đặt tại Hà Nội. Lá quốc kỳ Việt Nam Đế quốc là cờ quẻ Ly, tỉ lệ 2/3 với nền vàng và quẻ Ly đỏ ở chính giữa, được sử dụng đến ngày 23 tháng 8 cùng năm. Ý nghĩa của lá cờ dựa trên thuyết ngũ hành : Nền Vàng thuộc hành Thổ, cũng tượng trưng cho sự cân bằng Âm-Dương, thể hiện ước vọng thái bình thịnh trị cho nước Nam. Quẻ Ly (離) thuộc hành Hỏa, có nghĩa là lệ dã (sáng chói), biểu trưng cho nhiệt năng (mặt trời, lửa, ảnh sáng) – cũng tức là nền văn minh ; phần màu vàng chen giữa ba vạch đỏ giống chữ công (工) có nghĩa là việc làm, lao động ; màu đỏ thuộc hành Hỏa, và cũng biểu trưng cho phương Nam. Cho nên, tổng thể lá cờ vừa hàm nghĩa tụng ca sự thịnh vượng, tự chủ của nước Việt Nam vừa tôn vinh đức siêng năng cần mẫn của người Việt Nam trong lao động sản xuất. Lãnh thổ Việt Nam Đế quốc lúc này đã gồm thâu cả Nam Kỳ.
Mã màu : #FFFF00, #CC0000

3. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945 – 1947, 1954 – 1955)
Sau cuộc chính biến 19 tháng 8 và tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 (có ý nghĩa như sự công bố thành lập) năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, có ý nghĩa là chính thể dân chủ cộng hòa đầu tiên tại Việt Nam và là sự kế thừa Việt Nam Đế quốc về chính trị cũng như lãnh thổ. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực tế có thời kỳ gián đoạn khá dài (1947 – 1954) do sự bùng nổ cuộc Chiến tranh Đông Dương, chính phủ phải giải tán và trở thành Mặt trận Việt Minh, hoạt động chủ yếu tại chiến khu Việt Bắc. Lá quốc kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là cờ sao mai (hay còn gọi là cờ đỏ sao vàng), xuất hiện lần đầu trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa (1940), ý nghĩa của nó được lý giải trong một bài thơ của Nguyễn Hữu Tiến (tác giả) :
Hỡi những ai máu đỏ da vàng
Hãy chiến đấu với cờ thiêng Tổ quốc
Nền cờ thắm máu đào vì đất nước
Sao vàng tươi da của giống nòi
Đứng lên mau hồn nước gọi ta rồi
Hỡi sĩ-công-nông-thương-binh
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.
Tỉ lệ cờ 2/3 gồm ngôi sao vàng năm cánh chính giữa nền đỏ. Ngôi sao mai (còn gọi là sao Hôm – xuất hiện khi mặt trời mới nhú) thể hiện niềm tin vào tương lai rạng rỡ của đất nước.
Mã màu : #CC0000, #FFFF00

4. Quốc gia Việt Nam (1949 – 1955) và Việt Nam Cộng hòa (1955 – 1975)
Theo thỏa thuận Yalta (đầu tháng 2 năm 1945), bên cạnh việc quy định khu vực đóng quân sau khi Trục phát xít tan rã, ba cường quốc Liên Xô – Hoa Kỳ – Anh cũng nhất quán rằng, các khu vực trước Đệ nhị Thế chiến là thuộc địa thì trả về cho chính quốc cũ. Bởi vậy, ngay sau khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng (14 tháng 8 năm 1945), quân đội Pháp nhập vào lực lượng Anh quốc để tiến vào Đông Dương – một mặt là giải giới quân đội Nhật, mặt khác là dọn đường cho sự quay trở lại của Đế quốc thực dân Pháp. Về nguyên tắc, việc này tuân thủ đúng Hiệp ước Yalta. Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 (1946) – được ký giữa Jean Sainteny (đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp) và Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh (những đại diện của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) – quy định, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do (tự trị) trong Liên bang Đông Dương (thực tế chỉ tồn tại trên danh nghĩa) và trực thuộc Liên hiệp Pháp. Sự kiện này cũng có ý nghĩa như dấu mốc hình thành khối Liên hiệp Pháp (1946 – 1958). Tuy nhiên, ngày 2 tháng 6 cùng năm, Cao ủy Đông Dương (tương đương với Toàn quyền) Georges Thierry d’Argenlieu đã đơn phương thành lập tại khu vực ngày nay là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ một thực thể có tên là Cộng hòa tự trị Nam Kỳ (République autonome de Cochinchine), do đó làm mất giá trị bản Hiệp định, nhưng cũng có thể xem đây là một trong những căn nguyên dẫn đến cuộc Chiến tranh Đông Dương (nổ ra vào ngày 19 tháng 12 năm 1946). Dầu vậy, do thực lực quá yếu nên chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tự giải tán vào khoảng đầu năm 1947 và trở lại hình hài Mặt trận Việt Minh, rút toàn bộ ban lãnh đạo lên chiến khu Việt Bắc. Ngày 17 tháng 2 năm 1947 tại Nam Kinh (Trung Hoa Dân quốc), các tổ chức chính trị đối lập với Việt Minh và một số hội đoàn tôn giáo đã họp hội nghị thành lập Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp – tổ chức này là tiền đề của chính phủ Quốc gia Việt Nam.
Quốc gia Việt Nam ra đời ngày 14 tháng 6 năm 1949 theo thỏa thuận giữa đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp và cựu hoàng Bảo Đại (thoái vị ngày 30 tháng 8 năm 1945) – Hiệp ước Vịnh Hạ Long (7 tháng 12 năm 1947). Đây là chính thể quân chủ lập hiến, đứng đầu trên danh nghĩa là Quốc trưởng Bảo Đại, điều hành quốc gia là Thủ tướng và Nội các ; về kết cấu thì Quốc gia Việt Nam mô phỏng cách tổ chức của những nước đại nghị chế như Đức, Ý, Israel, Ấn Độ… Quốc gia Việt Nam kế thừa vai trò chính trị cũng như lãnh thổ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa tự trị Nam Kỳ – tức là thuộc khối Liên hiệp Pháp. Thủ đô đặt tại Sài Gòn. Quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ, tỉ lệ 2/3 với năm sọc ngang (hai sọc vàng chen giữa ba sọc đỏ) chính giữa nền vàng. Cờ vàng ba sọc đỏ sao phỏng cờ quẻ Càn của triều Nguyễn (1890 – 1920) nhưng màu đỏ sậm hơn. Tương tự cờ quẻ Ly, cờ vàng ba sọc đỏ tuân thủ nguyên tắc ngũ hành bát quái, chỉ khác một chút là quẻ Càn (乾) thuộc hành Thổ, có nghĩa là kiện dã (khỏe mạnh), tượng trưng cho tứ đức (nguyên-hanh-lợi-trinh, có tứ đức thì tạo nên nghiệp lớn), ý nghĩa của quẻ Càn là biểu trưng cho thiên mệnh, địa vị chính thống. Đó cũng là nguyên cớ vì sao những người suy tôn lá cờ này thường tự coi mình là “chính nghĩa quốc gia”. Ba sọc đỏ cũng hàm nghĩa ba giọt máu Bắc-Trung-Nam không thể chia lìa của đất mẹ Việt Nam.
Sau khi trận Điện Biên Phủ kết thúc với thắng thế thuộc về Mặt trận Việt Minh (7 tháng 5 năm 1954) và Hội nghị Genève (26 tháng 4 đến 8 tháng 5 năm 1954) tổ chức, Cộng hòa Pháp chấm dứt vai trò chính trị tại Đông Dương và quân đội Pháp phải triệt thoái khỏi miền Bắc Việt Nam (giới hạn là vĩ tuyến 17), chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khôi phục (10 tháng 10 năm 1954). Lúc này, lãnh thổ Việt Nam bị chia cắt bởi vĩ tuyến 17, nửa phía Bắc là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (thủ đô Hà Nội), nửa phía Nam là Quốc gia Việt Nam (đô thành Sài Gòn). Nhưng trong cuộc tổng tuyển cử năm 1955 (còn được gọi là trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam), Quốc trưởng Bảo Đại thất cử và Thủ tướng Ngô Đình Diệm thắng áp đảo. Ngày 26 tháng 10 năm 1955, ngài Ngô Đình Diệm nhậm chức Quốc trưởng (sau đó được gọi là Tổng thống) và đổi quốc hiệu là Việt Nam Cộng hòa. Việt Nam Cộng hòa kế thừa Quốc gia Việt Nam về lãnh thổ (đường biên tuân theo Hiệp định Genève) và vai trò chính trị. Ngày 26 tháng 10 năm 1956, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa được công bố, lá cờ vàng ba sọc đỏ được giữ nguyên làm quốc kỳ. Vai trò quốc kỳ của cờ vàng ba sọc đỏ tồn tại đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì chấm dứt – khi chính thể Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam được thay thế bởi Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Mã màu : #FFFF00, #CC0000

5. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1955 – 1976) và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1976 đến nay)
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khôi phục, nhưng cực Nam dừng lại ở vĩ tuyến 17 (tuân theo Hiệp định Genève). Sắc lệnh 249/SL (ngày 30 tháng 11 năm 1955) được ký bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ấn định việc sửa đổi hình dạng ngôi sao để phù hợp với ngôi sao biểu trưng thường thấy trên quốc kỳ các nước Xã hội chủ nghĩa. Ý nghĩa lá cờ đỏ sao vàng về căn bản được giữ nguyên. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam họp khóa đầu tiên đã chọn lá cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là chính thể nhất thống trên toàn lãnh thổ Việt Nam, có ý nghĩa kế thừa hai thực thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.
Mã màu : #CC0000, #FFFF00
MỘT SỐ HÌNH ẢNH
Lá cờ long tinh của triều Nguyễn đứng bên cạnh quốc kỳ Liên bang Đông Dương (hình in trên vỏ hộp thuốc lá).
Bích chương cổ vũ toàn dân kháng Nhật trong Thế chiến II.
Tem Đông Dương phát hành năm 1945 với cờ long tinh và hàng chữ 11.3.45 (thời điểm Hoàng đế Bảo Đại công bố nền độc lập của Việt Nam Đế quốc).
Cờ sao mai theo bước chân Trung đoàn Thủ đô về tiếp quản Hà Nội – 10 tháng 10 năm 1954 (ghi lại trong bộ phim tài liệu Việt Nam của Roman Karmen).
Lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay trước sân Phủ Toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch) – 1953.
Lá cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong một chuyến thăm Cao nguyên Trung phần của Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Cờ đỏ sao vàng ngạo nghễ tung bay giữa biển trời Trường Sa.


Xem tin nguồn: http://ttxva.org/quoc-ky-viet-nam/#ixzz2XTHMNfxt
Follow us: thongtanxavanganh on Facebook